Chương 80: Tên Người Chưa Chết
Mảnh giấy đầu tiên từ xóm Bạch Dương trở về khi nắng đã vượt mái công phòng. Người đưa tin là một bộ khoái trẻ đi cùng Đỗ Mạnh, ngựa còn thở trắng ở sân. Trên giấy chỉ có bốn dòng: đã tới phường Đông Liễu; hai người mang thẻ Hình bộ đã vào xóm trước; lý trưởng không giao địa chỉ thật vì lệnh không có dấu đối chiếu; Hạ Tố Nương hiện còn sống. Lục Thanh đọc đến bốn chữ cuối thì ngón tay giữ mép giấy khựng lại. Một cái tên trong tử tịch vừa được trả lại hơi thở bằng lời người sống, nhưng nàng vẫn đặt tờ giấy xuống như một vật chứng chưa đủ khóa.
Quan chủ thẩm hỏi: “Có đưa người về không?” Thanh nhìn dòng Đỗ Mạnh viết thêm rằng Hạ không chịu đi nếu không có người phường làm chứng. “Không ép. Xin cho lý trưởng và thư lại thuế cùng đi. Lệnh hộ tống ghi rõ bảo vệ nhân chứng, không phải câu người.” Vai trái của nàng đau âm ỉ dưới lớp áo. Điều đáng chú ý hơn là hai người mang thẻ Hình bộ đã đi thẳng tới xóm Bạch Dương, trong khi nha môn chỉ vừa mở sổ chưa đầy nửa ngày.
Giữa giờ Ngọ, tin thứ hai tới. Hai người kia đã tìm căn nhà ghi trong hộ tịch nhưng chỉ gặp một bà lão trông vườn. Lý trưởng cố ý dẫn họ vòng sang bờ bắc; trong lúc ấy Đỗ Mạnh theo thư lại thuế tới một xưởng nhuộm bỏ không, nơi Hạ đang tránh mặt. Nàng không chạy vì sợ nha môn. Ba năm trước cũng có người đeo thẻ quan gọi nàng “đi đối chiếu giấy tờ”, và sau lần ấy trên giấy nàng đã chết. Thanh bảo văn lại chép nguyên câu đó, không tự đổi “người đeo thẻ quan” thành “người Hình bộ”.
Trong lúc chờ, họ không mở lại sổ tang. Quan chủ thẩm đặt bản đối chiếu Hạ Tố Nương, tử tịch hồi đối, hộ tịch Đông Liễu và sổ thuế điền thành bốn chồng riêng. Thanh vẫn đứng ngoài mép bàn, không chạm bản gốc. Nàng yêu cầu đánh dấu những chỗ cần hỏi: Hạ rời phường khi nào, ai báo tử, vì sao hộ tịch địa phương không đóng tên, ai xác nhận nàng trở về. Muốn biến một người tự xưng thành chứng cứ, họ phải dựng được con đường giấy tờ mà người khác có thể kiểm tra lại.
Cuối giờ Ngọ, Hạ Tố Nương được đưa vào bằng cửa bên dành cho nhân chứng kín. Đi trước là lý trưởng Đông Liễu, sau đó là thư lại thuế, Đỗ Mạnh và một phụ nữ áo nâu sẫm, tóc búi thấp, bàn tay lấm màu chàm. Nàng không giống người vừa từ cõi chết trở về; nàng chỉ giống người đi đường nắng lâu, mắt nhìn từng bộ đồng phục trong sân như tính trước lối thoát. Khi thấy Thanh, Hạ dừng nửa bước. “Ngươi cũng là quan?” Thanh đáp: “Không. Ta đang bị đình chức.” Hạ nhìn nàng thêm một nhịp rồi mới bước vào.
Quan chủ thẩm bắt đầu từ những điều ít tranh cãi: tên mẹ, xóm cũ, thửa ruộng hương hỏa, năm rời phường. Hạ trả lời khớp sổ thuế. Lý trưởng xác nhận nàng là con gái duy nhất của Hạ thị quả phụ; thư lại thuế xác nhận tám tháng sau ngày tử tịch ghi chết, chính hắn thấy nàng điểm chỉ nhận lại ruộng. Một bà cô họ còn nhắc vết sẹo lưỡi liềm ở ngón cái phải của Hạ. Dấu điểm chỉ mới có một đoạn khuyết nhỏ cùng vị trí với bản nhận ruộng cũ. Không ai coi đó là bằng chứng duy nhất, nhưng nó đứng cùng người làm chứng, ruộng đất và thuế thóc.
Văn lại cầm bút rồi hỏi: “Lời khai này ghi tên gì?” Trong tử tịch, Hạ Tố Nương đã chết ba năm. Nếu ghi nguyên tên, hắn sợ biên bản bị gạt vì dùng lời khai của người chết; nếu ghi tên khác, nha môn lại làm thêm một lần điều họ đang cố chứng minh là sai. Thanh nhìn đầu bút treo trên giấy. “Ghi: ‘Người tự nhận Hạ Tố Nương, được lý trưởng Đông Liễu, thư lại thuế và giấy ruộng đối chiếu bước đầu’. Không đổi tên nàng. Phần thân phận pháp lý để phục tra sau.” Quan chủ thẩm gật đầu. Hạ ngẩng lên, lần đầu ánh mắt rời khỏi cửa.
Khi thân phận đã được khóa bước đầu, quan chủ thẩm mới hỏi vì sao ba năm trước nàng biến mất. Sau khi mẹ mất, Hạ đi làm thuê cho một nhà buôn vải trong thành để trả nợ thuốc. Chưa đầy nửa năm, quản sự bảo có người muốn mua đứt khế làm và chuyển nàng sang phủ khác. Hạ từ chối, rồi bị giữ ba ngày trong căn nhà sau kho hàng. Ngày thứ tư, hai người mặc áo công sai tới, bắt nàng điểm chỉ lên một tờ giấy chưa viết đủ chữ. “Ta không biết đó là giấy gì,” nàng nói. “Chỉ nhớ họ bảo từ hôm ấy ta không còn dùng tên Hạ Tố Nương nữa.”
Nàng bị gọi là A Nương rồi giao sang một nhà khác làm bếp. Gần nửa năm sau, một trận sốt khiến chủ nhà sợ nàng chết trong phủ nên đuổi ra, và Hạ lần đường về Đông Liễu. Lý trưởng nói phường chưa từng nhận lệnh đóng hộ tịch nàng là người chết; chỉ có một công văn hỏi xác nhận nàng đã dời đi. Vì vậy tên nàng ở sổ địa phương chỉ bị ghi tạm trú nơi khác. Sau khi nàng trở lại, hắn phục lại phần ruộng của mẹ theo hai người láng giềng làm chứng. Tử tịch và hộ tịch từ đó chạy thành hai con đường: một đường tuyên nàng chết, một đường vẫn buộc nàng nộp thuế như người sống.
Hạ không biết ai báo tử, cũng chưa từng thấy thi thể nào mang tên mình. Khi nghe sổ tang ghi ngày kỵ mồng sáu tháng Chín và bên cạnh có chữ “hoàn”, mặt nàng trắng đi. “Ta chưa từng làm giỗ cho mình.” Thanh không hỏi chữ “hoàn” nghĩa gì. Một trường hợp không đủ để ép một ký hiệu phải mang một nghĩa. Nàng chỉ ghi nhận rằng Hạ từng bị đổi tên rồi trở về dùng tên cũ; muốn biết đó có phải quy luật hay không, họ cần thêm người sống.
Đỗ Mạnh đặt lên bàn bản chép số thẻ của hai người đã tới xóm sáng nay. Lý trưởng không giữ được người, nhưng đã nhớ hình dạng thẻ và đọc số cho thư lại ghi. Quan chủ thẩm cho niêm riêng, chưa kết luận thật giả. Thanh hỏi Hạ: “Ba năm trước, người khiến ngươi điểm chỉ có ở nha đường nào?” Hạ im rất lâu. “Có một lần họ đưa ta tới sân sau của một nha đường. Ta không biết cửa chính ghi gì. Nhưng người trong sân gọi một vị là Từ thị lang.”
Quan chủ thẩm không đọc tên Từ Kính cho nàng. Ông hỏi hình dáng, tuổi tác, cách xưng hô, rồi cho văn lại mang danh chức Hình bộ cũ tới, đọc lần lượt những người từng giữ chức thị lang năm ấy. Hạ nghe đến người thứ ba thì bàn tay nhuộm chàm siết lại. “Từ Kính. Là cái tên đó.” Nàng nói rằng mình từng quỳ ngoài hiên. Người ấy không hỏi nàng muốn bán mình hay không, chỉ hỏi thuộc hạ: “Tên cũ đã đóng chưa?” Khi nghe phường chưa chịu đóng, ông ta đáp: “Tử tịch đi trước.” Sau đó họ mới đưa giấy cho nàng điểm chỉ.
Cái đau ở vai Thanh dội lên như bị chạm đúng vết thương. Nàng không cho phép mình coi lời ấy là kết tội hoàn chỉnh. Ký ức ba năm có thể sai; Hạ có thể nghe thiếu một nửa câu. Nhưng lời khai khớp với sự thật trên bàn: tử tịch của nàng đã đi trước việc đóng hộ tịch địa phương. Và trên công văn gửi tới nha môn sáng nay, tên Từ Kính lại xuất hiện vì chính cuốn sổ đang giữ tên nàng. “Chép nguyên câu. Đánh dấu cần đối chiếu sổ ra vào Hình bộ và công văn với Đông Liễu năm đó. Không viết ‘Từ Kính ra lệnh khai tử’ nếu chưa có giấy hoặc người thứ hai xác nhận.”
Hạ quay sang nàng. “Nếu ta đã chết trên giấy, lời ta có được tính không?” Thanh nghĩ đến những năm mình tin người chết vì họ không đổi lời, rồi nhớ Dao nói hãy tin người sống. “Nếu chỉ vì một tờ giấy nói ngươi chết mà lời ngươi không được tính, kẻ viết tờ giấy ấy đã thắng từ ba năm trước.” Quan chủ thẩm lập biên bản bảo hộ nhân chứng ngay, quy định mọi lệnh đưa Hạ đi phải qua ông và đối chiếu dấu. Hạ không cảm ơn. Nàng chỉ gật đầu, nhưng hai vai co cứng đã hạ xuống một chút.
Biên bản được đóng dấu tạm khi trời ngả chiều. Tên Hạ Tố Nương nằm trên đầu trang, sau một hàng chữ giải thích nàng là người đang sống có thân phận pháp lý mâu thuẫn với tử tịch. Không ai sửa chữ “chết” trong sổ cũ, cũng không ai xóa nó. Thanh yêu cầu hai bản cùng tồn tại cho đến khi công đường trả lời được vì sao một người bị tuyên chết mà vẫn sống. Đó là cách làm chậm, nhưng nàng đã hiểu đôi khi chậm là thứ duy nhất giữ sự thật khỏi bị viết lại.
Ngay lúc biên bản được mang đi niêm, một nha sai từ cổng phụ chạy vào. Hắn không báo có người tấn công; hắn chỉ nói ngoài chợ phía đông đã có người hỏi nhau rằng nha môn vừa đưa về một phụ nữ “chết ba năm mà còn biết nói”, và có kẻ gọi đúng tên Hạ Tố Nương. Tin ấy không thể tự mọc chân. Từ lý trưởng, thư lại thuế, hai kẻ mang thẻ Hình bộ đến những con mắt ngoài đường, có quá nhiều chỗ để nó thoát ra.
Thanh nhìn Hạ. Người phụ nữ vừa được viết lại như một người sống đang ngồi cách nàng chưa đầy hai trượng, bàn tay nhuộm chàm đặt trên đầu gối, hơi thở đều nhưng mắt lại hướng về cửa. Trên bàn, tên Từ Kính nằm trong lời khai mới. Ngoài cổng, kinh thành đã bắt đầu truyền miệng chuyện một người chết bước về. Mực trên biên bản còn chưa khô, cuộc phục tra đã không còn nằm yên trong căn phòng này nữa.
