Bỏ qua nội dung

Chương 59: Xác Chết Biết Chữ

Lệnh đối chiếu được đưa xuống phòng nghiệm khi canh mới chưa qua nửa. Tờ giấy chỉ cho phép mở lại phần bàn tay phải của Chu Minh Viễn, kiểm những vật tiếp xúc trực tiếp với tay và đối chiếu dấu mực với mảnh giấy lấy từ đáy kép thư phường. Không khám rộng hơn, không cắt rạch, không tự ý lấy thêm vật chứng. Lục Thanh đọc từng dòng rồi đặt lệnh xuống bàn. Nàng vẫn bị đình chức, vì vậy tên nàng nằm ở mục “người đối chiếu”, phía dưới tên Chu Hoài Sinh là người chủ nghiệm và Đỗ Mạnh là người chứng kiến. Cách viết ấy khiến vai trái nàng nhói lên một cách khó chịu, nhưng cũng khiến đầu óc nàng yên hơn. Có giới hạn thì mọi kết luận phải đứng bằng chính dấu vết, không thể dựa vào quyền của người nói.

Thi thể Chu Minh Viễn chưa được hạ táng vì án khoa cử chưa kết. Áo quan đặt trong gian trong, nắp chỉ mở khi văn lại đọc xong số niêm cũ và Chu Hoài Sinh xác nhận dây niêm không bị thay. Đèn dầu được chuyển thấp xuống gần bàn tay phải. Thanh không chạm vào người chết. Nàng đứng chếch sang bên, tay phải giữ bản vẽ khám lần đầu, mắt lần lượt đối chiếu từng ngón. Vết mực ở ngón trỏ và ngón giữa vẫn đúng vị trí đã ghi trước đây: nằm nhiều ở mặt ngoài và đầu ngón, phù hợp với kết luận cũ rằng Chu từng chạm mép một mảnh giấy còn ướt, không phải dấu do tự cầm bút. Vệt đỏ mảnh ở khớp ngón giữa lại là chuyện khác. Nó chạy ngang phía ngoài khớp, thẳng đến mức giống dấu một vật tròn cứng từng bị ép vào da.

Chu Hoài Sinh cúi nhìn rất lâu. “Lần trước ngươi chỉ ghi dấu ép.”

“Vì lúc ấy chưa biết nên đối chiếu với vật gì.” Thanh đáp. “Bây giờ có thể thử kích thước cán bút.”

Văn lại mang tới ba cây bút cùng cỡ thường dùng trong trường thi. Không cây nào được chạm vào thi thể trước khi đo đường kính rồi ghi vào biên bản. Chu Hoài Sinh đặt một cán bút mới song song bên ngoài ngón giữa, không ép xuống. Độ rộng gần khít với vệt đỏ. Nếu Chu tự cầm bút, cán phải tựa ở phía trong ngón giữa, được ngón cái và ngón trỏ giữ lại. Dấu trên tay hắn lại nằm ở phía ngoài, như có một lực từ trên ép cả bàn tay xuống cán thay vì để các ngón tự điều khiển.

Đỗ Mạnh cau mày. “Có người cầm tay hắn?”

“Chưa đủ.” Thanh nói. “Chỉ đủ để nói tư thế ấy không phải tư thế tự viết.”

Chu Hoài Sinh dùng que tre chỉ sát mép vệt đỏ. Phần màu không nằm sâu dưới da; mép không có quầng bầm hay sưng như một vết ép lúc người còn phản ứng. Khi thử rất nhẹ ở rìa bằng miếng vải ẩm theo phép nghiệm, một chút màu đỏ dính lên vải. “Có màu từ vật ngoài cọ sang.” ông nói. “Dấu ép có thật, nhưng không phải một vết thương sống.”

Câu ấy khiến gian phòng lặng đi một nhịp. Thanh không vội gọi đó là dấu sau chết. Nàng xin mở phong niêm mảnh giấy “Đã nhận bản. Đường cũ.” dưới mắt mọi người. Dưới ánh đèn xiên, những nét mực hiện rõ hơn lần trước. Phần thân chữ khá đều, có dáng gần Chu Minh Viễn, nhưng ở những chỗ đổi hướng, đầu bút không nhấc gọn. Nó kéo thêm một sợi mực rất ngắn rồi mới ngoặt, như cả cổ tay bị đổi hướng chậm hơn ý muốn của người viết một nhịp.

Thanh chỉ vào chữ “đường”. “Đây là chỗ lão văn lại nói có thói quen của Lương Cảnh Du. Nét móc kéo thấp rồi ngoặt lên. Nếu có người chỉ bắt chước chữ Chu bằng tay mình, dáng chữ có thể giống Chu nhưng nhịp chuyển bút vẫn thuộc người bắt chước. Còn nếu người ấy không trực tiếp giữ cán bút…”

“Thì hắn có thể để thói quen của mình đi qua một bàn tay khác.” Chu Hoài Sinh nói.

Viên giám khảo được trường thi phái sang vẫn đứng ngoài cửa, đến lúc ấy mới bật cười. Ông ta kéo tay áo tránh mùi thuốc xông, giọng cố ý vang đủ cho văn lại nghe. “Ngỗ tác các người càng tra càng kỳ. Hôm qua nói người chết chép bài, hôm nay lại nói người chết viết thư. Ngày mai có phải gọi hồn Chu Minh Viễn lên công đường không?”

Đỗ Mạnh quay phắt lại, nhưng Thanh lên tiếng trước. “Xác chết không biết chữ.”

Viên giám khảo nhướng mày.

“Người sống mượn tay người chết.” Thanh nói. “Khác nhau ở đó.”

“Một câu nói nghe hay không biến thành chứng cứ.”

“Cho nên mới phải làm thử.”

Thanh không dùng tay mình. Vai trái của nàng không chịu được một động tác xoay kéo lâu, hơn nữa nàng đang là người đưa ra giả thuyết. Nàng bảo văn lại chọn ngẫu nhiên một câu ngắn. Đỗ Mạnh viết bằng tay phải như bình thường. Sau đó hắn thả lỏng bàn tay, không chủ động điều khiển ngón, còn Chu Hoài Sinh đứng phía sau, đặt tay lên mu bàn tay hắn và dẫn cả cổ tay đi theo cùng câu ấy. Không ai cố bắt chước chữ của ai. Họ chỉ làm hai việc khác nhau: một lần người cầm bút tự viết, một lần bàn tay cầm bút bị người khác đưa đi.

Hai hàng chữ không giống mảnh giấy trong hòm, và Thanh nói rõ điều đó ngay khi viên giám khảo định chế giễu. “Thử này không chứng minh ai đã viết mảnh giấy. Nó chỉ chứng minh một bàn tay không tự điều khiển vẫn có thể để lại chữ.”

Nàng đặt hai bản thử cạnh nhau. Ở hàng Đỗ Mạnh tự viết, những chỗ chuyển nét dừng gọn, lực bút thay đổi ở đầu ngón. Ở hàng bị dẫn, thân chữ vẫn giữ độ nghiêng vốn có do cách các ngón Đỗ Mạnh kẹp bút, nhưng chỗ ngoặt xuất hiện những đuôi mực nhỏ; vài nét bị kéo bằng cả cổ tay nên nặng hơn ở đoạn đổi hướng. Cán bút trong lần bị dẫn cũng trượt ra ngoài khớp ngón giữa. Khi Chu Hoài Sinh dùng lực đủ để giữ đầu bút không lệch, cán ép đúng vị trí tương ứng với vệt đỏ trên tay Chu Minh Viễn.

Thanh nhìn lại người chết. “Nếu Chu còn tỉnh và tự viết, hắn không cần một lực ép từ ngoài để giữ cán. Nếu hắn bị bắt viết nhưng tay vẫn tự điều khiển, dấu tỳ phải theo tư thế tự cầm. Ở đây, vệt ép nằm sai phía, không có phản ứng bầm của người sống, còn nét bút lại có những chỗ bị kéo bằng cả cổ tay.”

Chu Hoài Sinh không cho nàng đi xa hơn. “Chúng ta có thể ghi: bàn tay bị dẫn khi không còn tự điều khiển. Muốn ghi ‘sau chết’, phải có thêm thời điểm.”

Thanh gật đầu. Đó cũng là chỗ nàng không muốn dùng một chữ quá sớm. Biên bản khám lần đầu cho biết khi thi thể được đưa khỏi giếng, tay Chu đã có dấu cứng, và mực trên hai đầu ngón là dấu chạm giấy ướt từ trước, không phải dấu viết sau khi vớt lên. Mảnh giấy trong hòm lại khô hoàn toàn, không có dấu từng ngấm nước. Nếu nó thật sự được tạo bằng tay Chu, nó không thể được viết sau khi thi thể đã xuống giếng. Cơ chế dẫn tay chỉ đứng được ở quãng trước đó, khi Chu đã mất khả năng chủ động nhưng bàn tay chưa cứng hẳn. Vệt ép không có phản ứng sống khiến khả năng ấy nghiêng về sau chết hơn là một người còn tỉnh bị ép viết.

Chu Hoài Sinh bảo văn lại ghi từng phần riêng: dấu tay, đặc điểm nét, thử đối chiếu và giới hạn kết luận. Cuối cùng ông mới nói: “Có đủ căn cứ để giữ giả thuyết dẫn tay sau chết. Chưa đủ căn cứ để gọi tên người dẫn.”

Viên giám khảo đổi sắc mặt. “Các người định mang thứ này lên trước quan trường thi?”

Thanh quay sang ông ta. “Ta định mang biên bản.”

“Và bảo chữ của Lương Cảnh Du nằm trong tay người chết?”

“Không.” Thanh đáp ngay. “Ta sẽ bảo có một người biết cách tạo nét ấy đã dẫn tay Chu Minh Viễn. Người đó có thể là Lương, có thể là người học theo Lương, cũng có thể cố ý để chúng ta nghĩ tới Lương. Nếu hôm nay bắt Lương chỉ vì một nét móc, ngày mai kẻ thật sự cầm tay người chết sẽ biết chúng ta dễ bị dẫn đến mức nào.”

Đỗ Mạnh thở ra qua mũi. Hắn hiểu Thanh đang nhắc lại chính cái bẫy Nghiêm Sách vừa đặt: một manh mối thật, một cái tên thuận tiện, rồi tất cả tự chạy theo rãnh đã đào sẵn.

Khi phần bàn tay được ghi xong, Chu Hoài Sinh yêu cầu kiểm những vật tiếp xúc trực tiếp theo đúng phạm vi lệnh. Tay phải Chu Minh Viễn lúc nhập liệm được đặt sát thành trong áo quan, bên dưới một lớp vải lót xám. Văn lại đọc lại biên bản nhập liệm: áo quan do nha môn tạm cấp, đã kiểm đáy và nắp, nhưng lớp vải lót không bị tháo vì lúc ấy không có dấu gì dẫn đến đó. Thanh cúi xuống nhìn đúng vị trí bàn tay từng nằm. Trên mép vải có một đường mực nâu rất mảnh, dài chưa bằng nửa đốt ngón tay. Nó không trùng màu mực đen trên tay Chu.

“Dừng.” nàng nói.

Không ai chạm tiếp. Đỗ Mạnh gọi người giữ kho và viên lại mục phụ trách áo quan tới. Sau khi hai người xác nhận niêm và ký bổ sung, Chu Hoài Sinh mới dùng kẹp tre nâng đúng phần mép vải có vệt mực. Bên dưới không phải gỗ. Có một lớp giấy gấp phẳng được dán áp sát thành áo quan, mỏng đến mức nếu không kiểm từ vị trí bàn tay sẽ chỉ tưởng là lớp lót cứng.

Viên giám khảo bước hẳn vào phòng.

Tờ giấy được lấy ra trước mặt tất cả mọi người, đặt lên khay sạch rồi mở từng nếp. Góc trên có dấu số báo danh của Chu Minh Viễn. Giữa tờ là một bài văn hoàn chỉnh. Thanh chỉ đọc vài dòng đã nhận ra điển cố từng xuất hiện trong ba bài thi, nhưng cách triển khai không giống bản bài của Chu đang lưu ở trường thi.

Đỗ Mạnh nhìn nàng. “Bài thật?”

“Chưa gọi như vậy.” Thanh nói, mắt vẫn ở trên tờ giấy. “Phải đối chiếu giấy trường thi, dấu phát đề và bản lưu.”

Ở cuối tờ, ngay trước chỗ đáng lẽ phải có dấu thu bài, có một vệt son nhỏ đã bị lau gần hết. Thanh nhìn nó rất lâu. Trong ngực nàng, lời cảnh báo “bản thứ hai” từ ống trúc của Dao thoáng qua, nhưng nàng không nói ra. Nàng chỉ bảo văn lại niêm riêng, ghi rõ nơi tìm thấy: dưới lớp lót thành phải áo quan của Chu Minh Viễn.

Nếu tờ giấy này là bài Chu đã thật sự viết trong trường thi, thì bản đang nằm trong kho trường thi không chỉ là một bài bị chép hoặc sửa.

Nó đã bị thay.