Chương 360: Khoảnh Khắc Phản Kích - Đấu Trường Tân Sinh
Dấu đỏ “Khai ngoại phong ngay” còn chưa khô hẳn khi Tạ Huyền và Lạc Thanh Hoài bước qua cửa Phòng ba. Một chiếc bàn đá dài đặt giữa phòng, hai ghế ở hai đầu, giữa chúng dựng bình phong thấp chỉ che phần giấy viết. Hộp cựu ấn nằm chính giữa, dây niêm xám vẫn nguyên, góc phiến phong ngoài có đường nứt mảnh mà Tạ Huyền từng thấy ở bản chà. Khảo sự đặt trước mỗi người một tờ biên bản riêng. “Cùng nhìn một vật. Lời khai tách. Không đọc giấy của nhau, không ký thay, không xác nhận thay.” Lạc Thanh Hoài đáp “Được”. Tạ Huyền kéo ghế bằng chân phải rồi ngồi xuống. Đầu gối trái vừa qua ngưỡng y vụ, mặt trong khớp vẫn nóng; tay phải nằm yên bên thân, không tham gia bất kỳ động tác nào.
Khảo sự mở phụ lục, đọc rõ phạm vi. Phòng ba chỉ được gỡ lớp ngoại phong mới nhất ở vị trí đã nứt, để lộ mặt lớp niêm thứ hai và mã khai phong bên dưới. Không mở nắp hộp, không bóc khóa trong. Nếu xuất hiện thệ văn, huyết văn hoặc phần có thể cấu thành nội dung lời thề, phải che lại ngay. Cựu ấn vẫn không được dùng làm huyết chứng; hai người hôm nay chỉ làm chứng cho tình trạng vật chứng và thứ tự lớp niêm. Tạ Huyền hỏi: “Nếu lớp dưới có chữ phân loại?” “Được ghi nguyên chữ nếu nằm trên ngoại phong.” Lạc Thanh Hoài hỏi: “Nếu có câu dẫn kiếm?” “Ghi hình thức, không diễn nghĩa thệ ý.” Hai câu hỏi khác nhau nhưng cùng chặn một việc: không cho nét cũ bị biến thành lời kết tội mới.
Người của Kiểm Ấn Phòng đặt hai thước đồng theo mép nứt. Không có linh quang hay pháp thuật tháo niêm. Một lưỡi dao bản nhỏ được hơ ấm, luồn dưới lớp sơn xám đã giòn; từng mảnh ngoại phong được nhấc lên và đặt đúng thứ tự trên khay gỗ. Tạ Huyền không dùng Quan Linh Tâm Nhãn. Chỉ bằng mắt thường cũng thấy lớp trên trẻ hơn lớp dưới: màu nhạt hơn, mép ép sắc hơn, còn lớp dưới đã ngả nâu và chìm sâu vào thớ gỗ. Khi mảnh thứ ba được nhấc khỏi góc phải, một dải giấy mỏng hiện ra trên chính lớp ngoài. Bốn chữ đầu là “Cựu huyết tranh”, phía sau thêm hai chữ nhỏ hơn: “chưa quyết”.
Tạ Huyền nhìn vị trí dải giấy trước khi nhìn chữ. Dải nhãn không xuyên xuống lớp niêm nâu; nó nằm hoàn toàn trên lớp bổ niêm phía ngoài. Điều đó không chứng minh nhãn sai. Một hồ sơ cũ hoàn toàn có thể được phân loại lại hợp lệ. Nhưng nó chứng minh một việc hẹp hơn: bốn chữ ấy không phải thứ nằm trên lớp phong cũ nhất đang được mở. “Ghi thứ tự lớp.” hắn nói. Người ghi chép hơi ngẩng đầu. “Biên bản khai ngoại phong đã có.” “Ta không yêu cầu kết luận. Chỉ ghi: nhãn ‘Cựu huyết tranh – chưa quyết’ nằm trên lớp bổ niêm ngoài, phía trên lớp niêm thứ hai.” Khảo sự nhìn vật chứng rồi gật. “Được. Đây là mô tả vật lý.”
Lạc Thanh Hoài chờ người ghi xong mới lên tiếng: “Phần của ta thêm một dòng. Ta xác nhận vị trí lớp nhãn, không xác nhận nguồn gốc nhãn và không xác nhận nó mô tả nội dung cựu ấn.” Khảo sự hỏi: “Ngươi có căn cứ phản đối nội dung?” “Không.” Nàng đáp ngay. “Vì không có căn cứ nên ta không xác nhận.” Tạ Huyền đặt nhẹ hai ngón tay trái lên mép giấy. Hai ngón giữa vẫn chậm cuối nhịp nhưng chưa xấu thêm. Hắn không cần nhìn sang cũng biết câu vừa rồi chính là điều mình muốn giữ: giữa họ còn nợ cổ cốt và người chết, càng không thể để một nhãn chưa rõ nguồn định nghĩa món nợ thay cả hai.
Lớp ngoài tiếp tục được gỡ. Bên dưới hiện một hàng chữ dập nông: “Kiếm thệ dẫn thức – khóa ấn khuyết.” Phần giữa hộp lập tức bị che bằng giấy đen để tránh lộ nội văn. Lạc Thanh Hoài nhìn hàng chữ không quá một nhịp. “Dẫn thức này là cách gọi hình thức, không đủ chỉ ra một tộc.” Người ghi chép hỏi nàng có xác nhận không. “Ta xác nhận nó không phải tên riêng đủ để quy cho Lạc tộc. Còn ai dùng, ta không biết.” Tạ Huyền ghi nhớ. Điều đó gần với những gì nàng từng nói dưới Huyền Thạch, nhưng vẫn chỉ là giới hạn của chứng cứ, không phải bằng chứng hai nơi cùng nguồn.
Mảnh ngoại phong cuối ở góc nứt được nâng lên, để lộ trọn mã khai phong mà bản chà trước đây chỉ thấy nửa đoạn. Khảo sự lấy sổ Kiểm Ấn, đối từng nét rồi gọi thêm một người chứng kiến. Nếu mã không có trong sổ, nghi vấn sẽ đổi tính chất; nếu có, nó chỉ chứng minh từng tồn tại một lần khai – niêm theo quy trình. Người thứ hai đối xong, chỉ vào một dòng cũ. “Mã có.” Khảo sự nói. “Lần khai trước được ghi nhận.” Tạ Huyền không thất vọng. Một giả thuyết bị loại đi chỉ khiến đường sự thật hẹp hơn. “Lý do khai?” “Đối hình thức thệ chưa thành. Phục niêm sau đối ngoại.” Ô được phép đọc không có tên gia tộc.
Tạ Huyền nhìn dải “Cựu huyết tranh – chưa quyết” nằm trên khay. “Dòng khai – phục niêm có nhãn đó không?” Người của Kiểm Ấn Phòng lật lại trang, rồi lắc đầu. “Không.” Người ghi chép nói: “Có thể nhãn được bổ ở lần chuyển kho.” “Có thể.” Tạ Huyền đáp. “Vậy hồ sơ hiện tại phải ghi nguồn nhãn chưa đối.” Khảo sự nhíu mày. “Hồ sơ ghi ‘trường kế thừa’, không ghi ‘tên gốc’.” “Nhưng trường kế thừa đang là lý do kéo hai thân chứng vào cùng thủ tục.” Hắn nói đều. “Ta không yêu cầu xóa. Chỉ yêu cầu không để nó đi trước chứng cứ.” Lạc Thanh Hoài nói từ đầu bàn bên kia: “Phần của ta cũng yêu cầu như vậy. Ghi riêng, không viện lời hắn làm căn cứ cho ta.”
Khảo sự im một lát rồi ra hiệu cho người ghi chép. Hai yêu cầu được nhập thành hai dòng độc lập. Không ai trong phòng coi đó là đại thắng. Không có kiếm rời vỏ, không có chân tướng mười bảy năm trước rơi xuống bàn. Nhưng Tạ Huyền biết đây là phản kích mà họ có thể làm lúc này. Trước đó, “Cựu huyết tranh – chưa quyết” là một nhãn cũ đủ sức dẫn hồ sơ. Bây giờ nó vẫn còn, nhưng bị khóa thêm một giới hạn: phụ nhãn nằm trên lớp bổ niêm, nguồn đặt nhãn chưa đối. Một cái tên không còn được phép giả làm chân tướng chỉ vì nó cũ hơn người đang đọc.
Khảo sự cho hai người tự viết phần xác nhận. Tạ Huyền dùng tay trái. Đến giữa đoạn, hai ngón giữa chậm nửa nhịp; hắn lập tức giảm lực cầm bút, không ép tay chạy nhanh hơn. Hắn chỉ ghi điều đã thấy: lớp ngoài mang nhãn huyết tranh; lớp dưới mang mô tả kiếm thệ dẫn thức, khóa ấn khuyết; mã khai phong có đối sổ; lý do cũ chỉ ghi đối hình thức thệ chưa thành; chưa có dữ kiện trong phần được mở chứng minh nhãn huyết tranh là tên gốc, huyết chứng hay nội dung thệ. Hắn ký rồi buông bút. Lạc Thanh Hoài hoàn tất ở đầu kia. Hai tờ giấy được thu riêng, đóng hai dấu riêng, không ai được xem phần của người còn lại.
Khi thủ tục tưởng đã xong, người của Kiểm Ấn Phòng bỗng gọi khảo sự lại. Ông dùng thước đồng chỉ vào cạnh dưới lớp niêm nâu, nơi vừa được lớp ngoài che kín. Ở đó có một ô nhỏ, không phải thệ văn mà chỉ là trường kiểm của ngoại phong. Chữ đã mòn nhưng vẫn đọc được: “Thân chứng thứ hai: khuyết.” Khảo sự lập tức cho dừng. “Không mở thêm.” Tạ Huyền không hỏi thân chứng thứ hai là ai. Một ô trống từ cựu hồ sơ không có quyền tự động biến người hôm nay thành kẻ kế thừa vị trí ấy. Hắn chỉ hỏi: “Dòng này thuộc lớp nào?” “Lớp niêm thứ hai. Cũ hơn bổ nhãn.” “Ghi thứ tự.”
Lạc Thanh Hoài nói trước khi người ghi chép hạ bút: “Ghi rõ thân chứng hiện tại không được dùng để lấp trường khuyết của cựu ấn.” Khảo sự nhìn nàng. “Quy lệ vốn đã yêu cầu tách lời.” “Vậy viết ra không làm sai quy lệ.” Nàng đáp. Tạ Huyền không chen vào. Lần này là phản kích của nàng, không cần hắn đứng cạnh mới thành. Cuối cùng, khảo sự gật đầu. Hai biên bản đều được bổ sung giới hạn: họ chỉ chứng kiến khai ngoại phong, không kế thừa thân phận nhân chứng cũ và không hoàn tất thệ chưa thành.
Hộp cựu ấn được niêm bảo toàn tạm thời. Dải “Cựu huyết tranh – chưa quyết” được bỏ vào túi chứng vật riêng, không dán trở lại. Trên phụ lục của Tạ Huyền xuất hiện dấu mới: “Ngoại phong tầng một đã khai. Phụ nhãn hậu bổ – nguồn chưa đối. Nội văn chưa khai.” Dưới đó là dòng “Truy nguyên lần chuyển kho đặt phụ nhãn.” Hắn đứng dậy bằng chân phải làm trụ, chân trái chỉ kéo theo. Cơn nóng trong gối vẫn ở đó; sáu thắng ngoài Đấu Trường cũng vẫn ở đó. Không thứ nào biến mất vì một khe hở vừa mở trong giấy tờ.
Lạc Thanh Hoài gấp phụ lục. “Món nợ giữa Tạ và Lạc vẫn còn.” “Ừ.” “Nhưng ai muốn dùng cái nhãn này nói thay nó, từ giờ phải chứng minh nhãn từ đâu tới.” Tạ Huyền nhìn dải giấy đã bị tách khỏi hộp. “Cả chỗ ‘thân chứng thứ hai’ nữa.” Ngoài hành lang, một thư lại đang chờ với phiếu chuyển mới. Trên đầu phiếu không phải tên hai người mà là tên một tuyến hồ sơ: “Bàn lưu nguồn – truy phụ nhãn.” Dòng hạn xử lý chỉ có một câu: “Đối trước khi mở tầng phong kế.” Ngay dưới đó, ở ô người lập phụ nhãn, là một khoảng trắng chưa có tên.
