Chương 47 - Chương 47: Bản Sao Biên Bản
Chương 47: Bản Sao Biên Bản
Lệnh khám xét Kho Đông được ký lúc bảy giờ hai mươi sáu, giới hạn rõ ba khu vực: cầu thang sơn xanh, phòng photocopy và mọi vị trí có dấu hiệu cất giấu tài liệu liên quan biên bản giao nhận vật chứng mười năm trước. Quân đọc toàn bộ phần phạm vi trước khi ký nhận. Anh không xin mở rộng bằng một câu “vật có liên quan khác”, cũng không để lý do khẩn cấp biến thành quyền lục soát cả công trình. Người đã dựng hồ sơ chống Phúc hiểu quy trình đủ sâu để chờ họ sai. Vì vậy, cách duy nhất tiến vào Kho Đông là không cho đối phương một lỗi thủ tục nào để sử dụng về sau.
Đoàn khám xét rời bệnh viện trong hai xe, có điều tra viên, kỹ thuật hình sự, đại diện viện kiểm sát và một kỹ sư điện của bệnh viện. An Nhiên ngồi bên cạnh Quân, trên đầu gối là sơ đồ công trình cũ được in thành ba bản độc lập. Khu kho thuốc phía đông đã bị tách khỏi bệnh viện chính sau một đợt cải tạo tám năm trước. Trên bản vẽ có một cầu thang xuống tầng kỹ thuật, một phòng sao chụp nhỏ và một cửa thoát hàng nối ra hẻm sau. Cửa ấy chính là khoảng trống Quân không muốn lặp lại sau câu nói của nghi phạm: các người không có đường rút.
“Nếu kẻ mặc áo mưa đang ở đó, hắn sẽ ưu tiên lấy giấy hơn đối đầu,” An Nhiên nói. “Nhưng nếu hắn biết bản sao đã bị phát hiện, mục tiêu có thể đổi thành làm hỏng hiện trường.”
Quân nhìn những đường mực nhạt trên sơ đồ. “Đó là giả thuyết. Ta khóa cửa thoát trước, kiểm tra điện trước, rồi mới chạm vào cầu thang.”
Kho Đông nằm sau một dãy nhà khám cũ đã đóng cửa, tường loang nước và biển cảnh báo rơi mất một góc. Sợi xích trên cổng ngoài mới hơn phần bản lề rỉ sét. Kỹ thuật viên chụp toàn cảnh, đo vết cắt trên khóa cũ và lấy mẫu lớp dầu còn bám ở ổ khóa mới. Tống Nghi dẫn nhóm vòng ra hẻm sau. Chưa đầy hai phút, giọng cô vang trong bộ đàm: cửa thoát hàng khép nhưng chốt phía trong đã bị thay. Không có dấu người vừa rời đi, mặt đất ướt chỉ giữ những vệt giày của nhân viên bảo trì từ ba ngày trước.
Quân không coi sự vắng mặt ấy là an toàn. Anh yêu cầu kỹ sư điện cô lập nguồn từ tủ chính. Khi nắp tủ được mở, một dây dẫn phụ lộ ra dưới bó cáp cũ. Nó nối thẳng tới ổ cắm phòng photocopy, bỏ qua cầu dao chống quá tải. Đầu dây được quấn băng nâu cùng loại thường dùng trong sửa điện dân dụng. Chưa thể nói nó đến từ cuộn băng trong túi nghi phạm, nhưng cách đi dây cho thấy người mang giấy giới thiệu giả không chỉ “kiểm tra hệ thống điện”. Họ đã chuẩn bị để chiếc máy photocopy nhận điện ngay cả khi toàn khu bị cắt nguồn.
“Nếu bật máy, bộ sấy có thể quá nhiệt,” kỹ sư nói sau khi đo điện trở. “Lỗ thông gió phía sau bị chèn kín. Không cháy ngay, nhưng đủ làm biến dạng giấy trong đường dẫn và xóa dấu trên trống.”
Tống Nghi nhìn qua cửa phòng, môi mím lại. “Họ chờ người đến tìm chứng cứ rồi tự tay phá nó.”
“Ghi nhận cấu tạo, không ghi động cơ,” Quân nhắc. Giọng anh không nặng, nhưng Tống Nghi lập tức sửa câu trong biên bản. Mười năm trước, một ý nghĩ hợp lý đã được viết thành sự thật trên giấy. Hôm nay, họ không được phép trả lại sự thật bằng cùng một sai lầm.
Phòng photocopy chỉ rộng hơn một kho dụng cụ. Máy cũ phủ bụi ở mặt trên nhưng tay nắm khay giấy sạch, dưới chân có những hạt mực đen mới rơi. Kỹ thuật viên niêm phong dây dẫn phụ, tháo ổ cứng lưu tác vụ và chặn cơ cấu sấy trước khi mở máy. Quân không đứng chờ kết quả. Anh cùng An Nhiên đi xuống cầu thang sơn xanh ở cuối hành lang.
Sơn trên tay vịn đã chuyển thành màu xanh xám, bong thành từng vảy mỏng. Bậc thứ bảy khác các bậc còn lại ở hai chi tiết: mép tấm ốp bên hông có một vết xước mới, nhưng đầu vít phía trước lại phủ lớp bụi liền, chưa từng bị tháo gần đây. Người vào ba ngày trước đã biết vị trí, song chỉ dò từ bên hông. Họ không biết cách Phúc mở tấm ốp.
Quân gọi điện cho Phúc ngay tại hiện trường, bật loa ngoài và để đại diện viện kiểm sát nghe rõ. Phúc mất vài giây mới trả lời vì thuốc giảm đau. “Đừng tháo vít trước mặt,” anh nói. “Tôi cạy thanh nẹp dưới bậc tám, rồi trượt tấm ốp của bậc bảy xuống. Phía sau có hai lớp gỗ. Tôi nhét túi vào khe giữa hai lớp, không phải hốc tường.”
Kỹ thuật viên làm đúng từng bước dưới camera. Thanh nẹp dưới bậc tám được nhấc lên, để lộ một rãnh hẹp phủ bụi. Tấm ốp bậc bảy trượt xuống chưa đầy hai phân rồi mắc lại. Trong khe tối xuất hiện góc nhựa trong đã ố vàng. Không ai kéo nó ra ngay. Họ chụp ảnh, đo vị trí, lấy mẫu bụi ở miệng khe và dùng kẹp có bọc đầu cao su đưa một túi chống ẩm mỏng ra ngoài.
Túi không còn nguyên như Phúc nhớ. Một đường rạch dài chạy sát mép hàn, nhưng vết rạch dừng trước phần giấy bên trong. Người dò từ bên hông đã chạm được túi, cố cắt nó bằng lưỡi mỏng rồi bỏ cuộc khi tấm gỗ ép sát. Bên trong vẫn có một tờ giấy gấp tư, thêm một gói hút ẩm đã chuyển màu hồng. Mực bị nhòe ở nếp gấp, nhưng phần tiêu đề và bảng thời gian còn đọc được.
Quân đứng cách bàn thu vật chứng nửa bước. Anh đã tưởng khoảnh khắc tìm thấy bản sao sẽ kéo theo một cảm giác nhẹ đi. Thay vào đó, tiếng máy photocopy mười năm trước trở lại trong trí nhớ: ánh đèn hành lang lạnh, một tập giấy được đưa qua tay quá nhanh, Trần Vũ đứng ở cuối dãy phòng hay chỉ là cái bóng do anh tự ghép vào sau này. Bàn tay Quân nắm lại rồi buông ra trước khi anh yêu cầu kỹ thuật viên mở giấy dưới kính phẳng.
Biên bản trong túi là bản sao của phiếu giao nhận hiện trường lập đêm hồ sơ cũ bị khép. Dòng giờ ở góc phải ghi 21:07, sớm hơn bản lưu chính thức đúng bảy phút. Quan trọng hơn, danh mục chỉ có sáu túi vật chứng. Dòng thứ bảy để trống, bên cạnh có ghi bằng mực xanh: “Chưa tiếp nhận – niêm phong lỗi, chờ lập lại.” Ở bản chính thức, cùng vị trí ấy đã trở thành “Túi số 7 – do Đặng Phúc bàn giao, niêm phong nguyên vẹn”, còn giờ lập biên bản bị đổi thành 21:14.
An Nhiên đặt hai bản chụp cạnh nhau, không để mép giấy chạm vào nhau. “Người sửa không chỉ thêm vật chứng. Họ dời thời gian để biến việc bổ sung sau đó thành một phần của lần bàn giao đầu.”
“Và biến Phúc thành người cuối cùng cầm túi số bảy,” Quân nói.
Đại diện viện kiểm sát yêu cầu ghi riêng nhận định ấy dưới dạng điểm cần giám định, chưa dùng làm kết luận. Quân đồng ý. Kỹ thuật viên chụp phổ mực, kiểm tra dấu ép bút và đánh số từng vùng khác biệt. Dưới ánh sáng xiên, họ thấy ở cuối trang có một vệt chữ rất mờ, đảo ngược như bóng mực từ tờ giấy từng đặt úp lên mặt sau bản sao. Tống Nghi không cố đọc bằng mắt. Cô chụp đa phổ rồi chuyển ảnh về máy tính hiện trường.
Trong lúc chờ xử lý, nhóm phòng photocopy báo ổ cứng của máy vẫn còn bảng đếm tác vụ, dù nội dung phần lớn đã bị xóa. Ba ngày trước, chiếc máy được cấp điện trong mười một phút. Có hai lệnh sao chụp: một trang từ mặt kính và sáu trang từ khay nạp. Lệnh đầu bị kẹt trước khi ra giấy. Một mẩu giấy vẫn còn cuốn quanh trục dẫn, được giữ lại vì bộ sấy chưa hoạt động. Nếu đội bật điện theo cách thông thường, mẩu giấy ấy sẽ đi thẳng qua vùng nhiệt đã bị chặn thông gió.
Quân quay lại phòng photocopy. Trục dẫn được tháo trong hộp che, từng vòng quay đều ghi hình. Mẩu giấy rộng chưa tới một bàn tay, trên đó chỉ còn phần giữa của một văn bản. Dòng đầu là tiêu đề đề nghị cung cấp hồ sơ bệnh nhân vô danh. Dòng cuối có tên người gửi: Nguyễn Trác. Ngày trên văn bản là chín năm trước, một năm sau khi hồ sơ lạnh bị khép.
“Tại sao tài liệu của Trác lại được đặt lên máy ba ngày trước?” Tống Nghi hỏi.
An Nhiên nhìn phần giấy cháy sém ở mép chưa qua nhiệt. “Có thể người vào đây đang tìm thứ Trác từng tìm. Cũng có thể họ muốn biết anh ta đã biết đến đâu. Hai hướng này dẫn đến cùng một việc cần làm: xác định tài liệu gốc và bảo vệ người gửi.”
Ảnh đa phổ của vệt chữ trên mặt sau bản sao hoàn tất ngay lúc đó. Những ký tự hiện dần thành một dòng ghi chú viết tay, không đầy đủ nhưng đủ nhận diện: “Bản sao 2 giao P.K.; bản sao 1 giữ tại kho. Nếu có người hỏi bệnh nhân vô danh, báo…” Phần sau mất ở nếp gấp. Hai chữ cuối chỉ còn nét đầu giống chữ N và T.
Quân không cho phép ghép hai chữ ấy thành tên Nguyễn Trác trong biên bản. Anh yêu cầu niêm phong riêng mẩu giấy, bản sao và dữ liệu máy; ba nhóm vật chứng phải được giám định độc lập. Nhưng khi gọi cho Trác, điện thoại chỉ đổ chuông rồi chuyển sang hộp thư. Cuộc gọi thứ hai cũng vậy. Tống Nghi kiểm tra hệ thống báo chí và thấy thẻ tác nghiệp của anh vừa quét qua cổng phụ trụ sở cách đó bốn phút.
Đội khám xét rời Kho Đông khi trời bắt đầu mưa lại. Bản sao biên bản nằm trong hộp chống ẩm, được hai người ký niêm phong và một camera hành trình ghi liên tục từ hiện trường về phòng chứng cứ. Quân chưa có tên kẻ sửa hồ sơ, nhưng đã có một tài liệu hình thành trước bản chính thức, một đường điện được chuẩn bị để hủy dấu trên máy và bằng chứng cho thấy ai đó vừa lục lại câu hỏi Nguyễn Trác từng đặt ra chín năm trước.
Khi xe vừa vào sân trụ sở, cán bộ trực gọi qua bộ đàm. “Đội trưởng, có một phóng viên đang gõ cửa phòng làm việc của anh. Anh ta không chịu để phong bì ở quầy.”
Quân nhìn lên tầng ba. Sau lớp kính hành lang, Nguyễn Trác đứng trong áo mưa sẫm màu, một tay giữ chiếc phong bì đã thấm nước, tay kia vẫn gõ đều ba nhịp lên cánh cửa đóng kín.
