Bỏ qua nội dung

Dư Quang Sau Mưa

Chương 12: Tủ gửi đồ số 17

CHƯƠNG 12. TỦ GỬI ĐỒ SỐ 17

Chiếc chìa khóa nằm trên lòng bàn tay tôi, nhỏ đến mức đáng lẽ không thể khiến cả căn hộ Hòa Bình im phăng phắc như vậy. Nhưng Tùng không nói, tôi cũng không nói. Chỉ có tiếng nước mưa còn rơi lộp bộp ngoài mái hiên và tiếng quạt cũ quay từng vòng khô khốc trên đầu, như thể cả căn nhà đang cố thở đều để thay cho chúng tôi.

Hai chữ DQ trên đầu chìa khóa rất mảnh, bị lớp xỉn màu phủ gần hết. Tôi dùng khăn khô lau thêm một lần, ngón tay vẫn hơi run vì lạnh và vì đêm Nam Thành chưa chịu rời khỏi người mình. Vai tôi nhức âm ỉ nơi Minh Khang từng giữ chặt, còn đầu gối bầm lên mỗi lúc một rõ. Nhưng tất cả những cơn đau đó bỗng trở nên xa hơn khi một nét khắc khác hiện ra dưới mép kim loại. Không phải chữ. Là số. Mười bảy.

Tùng cúi sát xuống, hơi thở khựng lại. “DQ, mười bảy. Chị, cái này không giống chìa khóa nhà.” Nó nói một câu rất thừa, nhưng tôi không có sức bắt bẻ. Có những lúc người ta nói điều ai cũng biết chỉ để chứng minh mình vẫn còn tỉnh táo. Tôi đặt chìa khóa lên chiếc đĩa sứ nhỏ, rồi tiếp tục lật phần bìa sau cuốn sổ của ba. Lớp giấy lót bị nước làm mềm, khi tôi gỡ thêm một chút, một mảnh nhựa trong đã ố vàng mắc ở khe keo rơi ra.

Trên mảnh nhựa chỉ còn vài chữ đứt đoạn: “Đông Quang… gửi đồ dài hạn… ô 17…” Phần địa chỉ bị nước ăn mất gần hết, chỉ sót lại hai chữ “Nam Thành” ở góc dưới. Tôi nhìn mảnh nhựa rất lâu. Dưới ánh đèn vàng của căn hộ cũ, nó trông không giống một vật chứng trong những bộ phim điều tra. Nó giống thứ rác nhỏ người ta có thể quét đi trong một lần dọn bàn. Vậy mà ba tôi đã giấu nó dưới lớp bìa sổ suốt mười hai năm.

“Chị định làm gì?” Tùng hỏi. Giọng nó thấp hơn bình thường. Tôi nghe được cả nỗi sợ lẫn sự hiểu tôi quá rõ trong câu đó. Tôi không trả lời ngay, vì nếu nói thật rằng tôi muốn đi tìm nơi này ngay lập tức, nó sẽ nổi giận. Nếu nói dối rằng tôi sẽ ngủ một giấc rồi tính, chính tôi cũng không tin. Cuối cùng, tôi chọn phương án trung gian kém thuyết phục nhất: “Chị gọi Hoài Phương.”

Hoài Phương nghe máy ở hồi chuông thứ hai. Khi tôi nói có chìa khóa, có mảnh thẻ gửi đồ và có chữ Nam Thành, cô ấy im đúng ba giây rồi chỉ hỏi: “Mày còn đứng được không?” Tôi nhìn đầu gối mình. “Nếu không phải chạy marathon.” “Tốt. Tao qua ngay. Và trước khi mày hỏi, không, tao không cho mày đi một mình với cái mặt như vừa được vớt từ phim thảm họa ra.”

Hoài Phương đến sau hơn hai mươi phút, tóc buộc vội, trên vai đeo túi máy ảnh, tay cầm thêm một túi cháo trắng mua ở đầu hẻm. Cô ấy đặt cháo xuống trước mặt tôi như đặt lệnh bắt buộc thi hành. “Ăn ba muỗng. Sau đó tao mới cho mày trình bày phần phá án gia đình.” Tôi muốn nói mình không đói, nhưng nhìn mặt Tùng và Hoài Phương, tôi hiểu tối nay nếu tôi không nuốt nổi cháo thì hai người này có thể đổ thẳng tôi lên giường, khóa cửa và tuyên bố bảo vệ hiện trường khỏi chính nạn nhân.

Sau ba muỗng cháo, Hoài Phương dùng ống kính macro chụp lại chìa khóa và mảnh thẻ. Cô ấy phóng ảnh lên laptop của Tùng. Những nét mờ trên mảnh nhựa hiện ra rõ hơn một chút: “Đông Quang Photo & Storage”, bên dưới là dòng địa chỉ ở hẻm 12, đường dẫn ra chợ cũ Nam Thành. Tùng nhìn màn hình, nhíu mày. “Em nhớ chỗ này. Hồi nhỏ ba từng chở em qua đó mua pin máy ảnh cũ. Có dãy tủ sắt màu xanh, mùi long não rất nặng.”

Tôi cũng nhớ lờ mờ. Một cửa tiệm nhỏ nằm gần đoạn đường xuống hầm chui, nơi ba từng bảo tôi đứng ngoài đợi vì trong tiệm nhiều đồ dễ vỡ. Khi ấy tôi chỉ nhớ mình đã giận vì ông mua cho Tùng pin đồ chơi mà không mua cho tôi kẹp tóc mới.

Gần sáng, chúng tôi gọi taxi đến hẻm 12. Tùng nhất quyết đi cùng dù chân trái của nó vẫn cứng sau một đêm mất ngủ. Tôi không đủ sức cãi lại. Thành phố sau mưa có màu xám bạc, mặt đường còn đọng nước, những bảng hiệu cũ trước chợ Nam Thành sáng lác đác như mắt người chưa tỉnh. Tiệm Đông Quang nằm lọt giữa một quầy sửa đồng hồ và hàng áo mưa, bảng hiệu xanh đã bạc màu, chữ “Photo & Storage” bong mất một góc.

Ông chủ tiệm là một người đàn ông ngoài sáu mươi, đeo kính dày, lưng hơi còng. Khi Hoài Phương hỏi về dịch vụ gửi đồ dài hạn, ông nhìn chúng tôi bằng ánh mắt cảnh giác của người từng gặp quá nhiều khách muốn tìm đồ nhưng không muốn nói lý do. Tôi đặt chìa khóa lên quầy. “Cháu muốn hỏi tủ số 17. Người gửi có thể là Nguyễn Văn Tâm.”

Cái tên của ba tôi làm bàn tay ông khựng lại trên chiếc khăn lau kính. Ông khựng lại rất nhẹ. Ông nhìn tôi lâu hơn. “Cô là gì của ông Tâm?” “Cháu là con gái ông ấy.” Ông chủ tiệm tháo kính ra, lau chậm một lần. “Tôi tưởng sẽ không còn ai đến lấy.”

Không khí trong tiệm đặc lại bởi mùi bụi, giấy ảnh cũ và long não. Ông dẫn chúng tôi ra phía sau, nơi một dãy tủ sắt màu xanh nằm sát tường. Nhiều ô đã hoen gỉ, trên mỗi cánh tủ có một miếng số bằng nhôm. Ô số 17 nằm ở hàng dưới, thấp đến mức tôi phải quỳ xuống. Đầu gối đau nhói, Tùng lập tức đưa tay đỡ khuỷu tôi, còn Hoài Phương giơ điện thoại quay lại toàn bộ quá trình. “Đừng ai chạm lung tung,” cô ấy nói. “Tao không muốn ba đứa mình từ nhóm tìm sự thật thành nhóm hủy chứng cứ vì ngu.”

Tôi tra chìa vào ổ. Lúc đầu nó không xoay. Một cơn sợ rất lạnh lướt qua gáy tôi, vì trong một giây tôi tưởng mọi manh mối vừa dẫn chúng tôi tới một cánh cửa chết. Ông chủ tiệm đưa cho tôi một lọ dầu nhỏ. “Ổ này lâu rồi không mở.” Tôi nhỏ hai giọt dầu, chờ vài nhịp, rồi thử lại. Lần này, kim loại kêu một tiếng khô khốc. Cánh tủ bật ra một khe hẹp.

Bên trong là một hộp thiếc được bọc bằng hai lớp túi nylon và một mảnh vải dầu. Trên nắp hộp có dán băng keo đã ngả vàng, nét chữ của ba tôi hiện ra dưới lớp bụi: “Nếu có người nhà đến, đưa tận tay.” Tôi chạm vào hàng chữ ấy, cổ họng nghẹn lại. Đây là lần đầu tiên tôi đứng trước một thứ ba để lại cho tôi bằng chính nét chữ của ông.

Ông chủ tiệm nói khẽ: “Sau vụ đó, công an có hỏi tôi vài lần. Nhưng họ chỉ lấy bản sao camera trước tiệm, không hỏi tủ này. Ông Tâm gửi trước đó mấy ngày, dặn nếu ông không quay lại thì chỉ người nhà mở. Tôi giữ vì… đồ của người chết, bỏ đi không đành.” Ông ngừng một chút, rồi thêm: “Ba hôm trước cũng có người tới hỏi tủ 17 còn không. Ăn mặc lịch sự, nói là người của công ty cũ. Nhưng không có chìa, tôi không cho xem.”

Tùng siết tay trên cán nạng. Hoài Phương liếc tôi, mặt cô ấy mất hẳn vẻ bông đùa. Tôi không hỏi người đó trông thế nào ngay. Nếu hỏi, giọng tôi có thể vỡ. Tôi chỉ ôm hộp thiếc lên chiếc bàn gỗ phía sau tiệm, để Hoài Phương chụp từng lớp bọc trước khi mở. Bên trong có một cuốn sổ kỹ thuật nhỏ, ba tấm ảnh in trên giấy đã ố, một bản photo sơ đồ hầm chui Nam Thành và một mẩu giấy bị nước làm loang gần hết mép dưới.

Cuốn sổ kỹ thuật không giống cuốn sổ bìa nâu ở nhà. Nó khô khan hơn, đầy ký hiệu, mốc giờ, số hiệu camera, ghi chú về đường truyền phụ và các điểm mù dưới hầm. Một vài trang bị xé mất, nhưng phần còn lại vẫn đủ khiến tôi lạnh sống lưng. Ba tôi không chỉ vô tình đi ngang qua vụ tai nạn năm đó. Ông đã theo dõi một lỗi kỹ thuật nào đó từ trước. Trên một trang có dòng chữ: “Tín hiệu đầu đúng vị trí. Tín hiệu sau lệch 180m. Không khớp tiếng còi.”

Tôi lật sang những tấm ảnh. Ảnh thứ nhất chụp miệng hầm Nam Thành trước đêm tai nạn, có vệt sơn trắng đánh dấu trên lan can. Ảnh thứ hai chụp một góc camera giao thông, mũi tên đỏ khoanh vào vùng bị che bởi bảng quảng cáo tạm. Ảnh thứ ba làm tay tôi lạnh đi. Trong ảnh là một chiếc xe phản ứng nhanh đời cũ, cửa sau mở hé, bên cạnh có bóng một người mặc áo phản quang quay nghiêng. Gương mặt mờ, nhưng trên cổ tay người đó có một chiếc đồng hồ mặt vuông rất nổi.

“Chị,” Tùng gọi nhỏ, “ba đang cố chứng minh có ai đó điều hướng sai?” Tôi không trả lời được. Những gì trước mắt chưa đủ để minh oan. Chưa đủ để buộc tội ai. Nhưng nó đủ để chứng minh điều tôi đã ôm suốt mười hai năm bằng niềm tin trần trụi: ba tôi đã nhìn thấy thứ người khác muốn chôn đi. Và vì thế, ông phải giấu lại ánh sáng trong một chiếc tủ sắt cũ.

Tôi mở mẩu giấy cuối cùng. Phần trên là nét chữ của ba, nhòe nhiều chỗ. Có vài từ còn đọc được: “nếu hồ sơ chỉ còn một tín hiệu”, “đừng để họ sửa mốc giờ”, “Minh An đã được đưa ra khỏi xe trước khi…” Phần sau bị nước ăn mất, để lại những vệt xám như khói. Tim tôi đập mạnh đến mức tai ù đi. Minh An. Tên cô bé ấy nằm trong giấy của ba tôi, không phải như nạn nhân trong bản án, mà như một người ông đã cố cứu.

Trang cuối cuốn sổ kỹ thuật bị gấp đôi. Tôi mở ra, thấy ở giữa trang chỉ có một câu, được viết đậm hơn những dòng còn lại, như thể ba đã dùng hết phần bình tĩnh cuối cùng để nhấn mạnh điều đó cho người sẽ tìm thấy nó sau này. Hoài Phương ngừng quay. Tùng đứng bất động bên cạnh tôi. Tôi đọc từng chữ, và cảm giác lạnh từ đêm mưa Nam Thành lại bò dọc sống lưng: “Đừng tin tín hiệu cứu hộ thứ hai.”