Bỏ qua nội dung

Bong Nguoi Trong Kho Thuoc

Chương 47 - Chương 47: Dấu Ấn Của Hoàng Hậu

Chương 47: Dấu Ấn Của Hoàng Hậu

Tiếng khóa kép khép lại sau hòm hồ sơ vừa dứt, chuông báo canh năm đã vang từ phía điện Thừa Quang. A Tịch không rời khỏi giá rèm ngay. Nàng đứng ép mình trong khe hẹp, đếm đủ ba lượt chân người đi qua, rồi mới cúi xuống nhìn vệt máu thấm qua lớp áo quét viện. Vết thương bên sườn chưa rách thêm, nhưng cái lạnh của tường đá đã ngấm vào xương. Trên sân, sáp niêm còn sót bị một nữ quan cạo sạch, bỏ vào hộp thiếc. Họ không để lại một mảnh vụn. Dấu phượng kia đã được bảo vệ bằng thói quen lâu năm.

A Tịch men theo lối chuyển rèm ra khỏi Phượng Nghi điện trước khi đội quét sân đổi ca. Nàng vòng qua bếp than, đổi chiếc khăn dính máu bằng tấm vải cũ giấu dưới chum tro. Qua cửa phụ, nàng cúi thấp như một cung nữ mệt lả sau đêm trực. Không ai giữ lại; chiếc áo nàng mặc thuộc về một người quá thấp để đáng nhớ.

Mẫn Chiêu nghi chờ trong gian ấm, chưa thay triều phục. Trên bàn là chén trà đã nguội và bản hồi đáp từ Phượng Nghi điện, chỉ có mấy dòng rằng Giang Nhược đang phối hợp đối chiếu án cũ, tạm chưa thể trở về. A Tịch không kể dài. Nàng nhúng đầu ngón tay vào nước trà, vẽ lên mặt bàn một dấu vuông, thêm nét cong như đuôi phượng và vạch ngang bị khuyết ở góc dưới. Mẫn nhìn đến nét thứ ba thì bàn tay đang giữ nắp chén dừng lại.

“Ngươi nhìn rõ chứ?” Mẫn hỏi. A Tịch đáp: “Dấu mới đóng trên sáp, nhưng vết khuyết giống dấu trong sổ giao nhận. Người cầm triện dùng vải vàng bọc hộp. Nữ quan Nội Đình thấy dấu thì cúi đầu.” Mẫn lấy khăn lau hình vẽ, động tác chậm hơn thường ngày. “Không phải ấn chính của Phượng Nghi điện. Ấn chính tròn, có đủ bốn chữ. Đây là nội mật ấn của Trung cung, dùng cho những lệnh không đưa qua Nội Đình công khai.”

A Tịch nhìn nàng ta. “Chiêu nghi nhận ra bằng gì?” Mẫn không khó chịu vì câu hỏi. Nàng mở chiếc tráp nhỏ bên cạnh, lấy ra một tờ sao sổ thai đã cũ. Ở mép dưới có nửa dấu phượng mờ, phần đuôi cũng cong vào trong, nhưng không có vết khuyết. “Bản sao này được chép trước khi Tạ Uyển Nghi sinh. Khi ấy nội mật ấn còn nguyên. Sau đó vài tháng, có lời nói triện bị sứt trong một lần chuyển lễ khí. Từ đó dấu có một vạch gãy. Hai năm sau, Trung cung báo đã thay triện mới.” Mẫn gấp tờ giấy lại. “Nếu tối qua người ta dùng đúng dấu sứt ấy, thì con triện cũ chưa từng bị hủy.”

Lời của Mẫn đủ chỉ đường, chưa đủ thành chứng cứ. Nàng ta muốn hạ người cao hơn mình, nên A Tịch vẫn hỏi nơi lưu mẫu triện. Ty Lễ có quyển triện thức không ai thấp phận được chạm tới; Tàng Chỉ phòng lại giữ vài tờ lệnh hỏng để vá gáy sách. Người phụ trách là Đỗ nữ sử, từng chép lệnh Nội Đình. Mẫn nói: “Năm Tạ Uyển Nghi sinh, em gái bà ta trực ở cửa tây rồi biến mất khỏi danh sách.”

A Tịch không hỏi vì sao Mẫn biết điều ấy. Người sống được đến vị trí của nàng ta đều có một kho tên tuổi giấu sau rèm. A Tịch chỉ xin một thẻ chuyển giấy vụn của Trường Xuân cung. Mẫn viết lệnh, không ghi tên người nhận. Trước khi nàng đi, Mẫn nói thấp: “Giang Nhược còn sống vì đã để lại lời bằng mực trước nhiều người. Ngươi muốn cứu nàng thì đừng biến mình thành lời khai duy nhất.” A Tịch gấp thẻ vào tay áo. “Tôi biết.” Nhưng khi nói, nàng vẫn nhớ bàn tay Giang co lại một nhịp bên cạnh vạt áo, như một người bị giữ giữa sân mà còn lo nàng đang ở quá gần.

Tàng Chỉ phòng nằm sau Ty Lễ, nơi giấy cũ và sổ bỏ được phân loại trước khi đốt hoặc nghiền làm bìa. Mùi hồ da trâu trộn giấy ẩm khiến căn nhà như một chiếc rương kín. A Tịch trình thẻ chuyển giấy. Bên cửa sổ, một bà lão áo nâu dùng dao tách bìa mục; mắt trái phủ màn trắng, mắt phải vẫn sắc. Bà nhìn đôi tay A Tịch lâu hơn mức cần thiết.

“Trường Xuân cung thiếu giấy nhóm lò đến mức phải sang đây xin sao?” bà hỏi. A Tịch đặt lên bàn một mảnh giấy đã vẽ bằng than hình dấu vuông. “Nô tỳ tìm mẫu này.” Lưỡi dao trong tay Đỗ nữ sử ngừng giữa lớp hồ. Bà không nhìn hình vẽ ngay. “Một cung nữ hỏi triện là tự tìm tội.” A Tịch đáp: “Một nữ sử từng có người thân bị xóa khỏi sổ cũng biết có những tội đã tìm đến mình từ trước.”

Trong phòng chỉ còn tiếng giấy mục bong khỏi bìa. Đỗ nữ sử ngẩng lên. “Ai nói với ngươi?” A Tịch không nêu tên Mẫn. “Tên em gái bà nằm trong sổ trực cửa tây trước đêm sinh của Tạ Uyển Nghi, nhưng không còn ở trang giao ca sau đó. Tôi tìm biên bản giao nhận bị thiếu. Bà tìm một người không được ghi đã chết.” Câu cuối khiến bàn tay bà run rất nhẹ. Bà đứng dậy, cài then cửa rồi dẫn A Tịch tới giá sách sát tường.

Đỗ nữ sử không lấy quyển triện thức. Bà rút một tập lệnh hỏng gáy, bìa ngoài đề năm niên hiệu đã cũ. “Bản chính bị thu. Đây là những tờ chép sai, giữ lại để đối chiếu nét chữ trước khi đem hủy.” Bà lật đến một tờ chỉ còn nửa trang. Trên đó là lệnh chuyển toàn bộ sổ giữ thẻ cửa tây lãnh cung, danh sách người trực phòng sinh và giấy giao nhận sau giờ Hợi vào kho án mật. Dòng đầu viết: “Phụng Trung cung khẩu dụ.” Ở cuối tờ, dấu vuông in nghiêng, đuôi phượng cong vào trong, vạch ngang ở góc dưới đứt đúng một đoạn như dấu A Tịch đã thấy trong canh tư.

Ngày ghi trên lệnh là ba ngày sau đêm Tạ Uyển Nghi sinh. Cột người thi hành có tên một nữ quan chưởng ấn của Phượng Nghi điện, còn cột giao nhận không ghi tên người nhận, chỉ viết hai chữ “lưu nội”. A Tịch đọc từng nét, ép chúng vào trí nhớ. Lệnh không chứng minh Hoàng hậu tự tay đổi hồ sơ, nhưng chứng minh những thứ Giang Nhược vừa yêu cầu đối chiếu đã bị gom đi theo khẩu dụ Trung cung từ nhiều năm trước. Khoảng trống trong hồ sơ không phải do tang sự vội vàng. Nó được tạo ra bằng một mệnh lệnh có dấu.

A Tịch đặt tờ giấy lên mặt bìa mềm, dùng mảnh than miết nhẹ ở mặt sau. Dấu triện hằn qua lớp giấy mỏng thành một hình ngược, đủ thấy vết khuyết và hai chữ nhỏ bên trong. Đỗ nữ sử giữ cổ tay nàng. “Không được mang nguyên tờ đi. Nơi này mỗi sáng đều kiểm số.” A Tịch gật đầu, xé phần bìa đã nhận vết hằn thành một dải hẹp rồi giấu vào đường may tay áo. Nàng hỏi tên em gái bà. Đỗ nữ sử đáp sau một lúc lâu: “Đỗ Yên. Nó được gọi vào phòng sinh thay người giữa giờ Hợi. Sáng sau, người ta nói nó đã chuyển sang hành cung. Ta chưa từng nhận được một chữ.”

Ngoài sân bỗng vang tiếng gõ ba nhịp lên cánh cửa gỗ. Đỗ nữ sử lập tức đóng tập lệnh, nhưng không kịp cất lên giá. Một giọng nữ quan truyền vào: “Ty Lễ kiểm lại giấy lệnh năm cũ. Mở cửa.” Không phải giờ kiểm thường lệ. A Tịch nhìn chiếc xe tre, nhìn cửa sổ nhỏ đóng chấn song rồi nhìn lò hồ ở cuối phòng. Đỗ nữ sử kéo tấm ván dưới giá sách, lộ một hốc chứa những cuộn giấy chờ hong. “Vào đó. Nếu bị lôi ra, đừng nhắc tên em ta.”

A Tịch không chui vào hốc kín. Nàng kéo xe giấy sát lò, hất thùng nước bẩn xuống nền rồi làm đổ chồng bìa mục. Khi cửa mở, nàng đã quỳ giữa giấy ướt, hai tay bê bết hồ, miệng xin tội vì làm hỏng giấy của Trường Xuân cung. Hai nữ quan bước vào; người đi sau cầm danh sách, hỏi có ai tới tìm mẫu triện cũ hay không.

Đỗ nữ sử chỉ vào A Tịch. “Có một đứa ngu tới xin giấy nhóm lò, làm đổ cả thùng hồ. Các vị muốn hỏi thì hỏi nó.” Nữ quan nhìn A Tịch từ đầu đến chân. Áo nàng cũ, mặt lấm tro, vết máu bên sườn bị nước hồ che thành mảng bẩn. Người kia dùng cán bút nâng cằm nàng. A Tịch để ánh mắt đờ đẫn như những năm ở lãnh cung, đáp trôi chảy về số giấy, số lò và tên quản sự giả trên thẻ. Nữ quan ném thẻ lại, ra lệnh mang giấy đi và buộc Đỗ nữ sử nộp mọi lệnh có dấu phượng trước giờ Ngọ.

A Tịch đẩy xe rời Tàng Chỉ phòng, lưng không thẳng lên cho đến khi qua hai lớp tường. Nàng đã lấy được một dấu hằn, một ngày lệnh và tên người thi hành, nhưng cái giá cũng hiện ra ngay: chỉ một câu hỏi về triện cũ đã khiến người của Ty Lễ tới kiểm. Có người vẫn canh tuyến giấy tờ năm ấy, không phải để giữ bí mật đã chết, mà để chờ xem ai còn muốn đào nó lên.

Nàng không trở lại Trường Xuân cung bằng đường cũ. Trước tiên A Tịch ghé qua kho thuốc phụ, nơi nàng và Giang Nhược từng giấu những mảnh giấy dưới ngăn đựng cam thảo. Nàng định để lại dấu hằn cho Giang nếu có người của Thái Y viện được phép tới lấy thuốc. Cửa kho không khóa. Bên trong sạch quá mức, các bó dược liệu được xếp lại ngay hàng, chiếc ngăn cam thảo đã bị kéo ra và đặt trên bàn.

Trên mặt gỗ có một vuông lụa vàng. A Tịch không chạm ngay. Nàng dùng đầu kẹp thuốc nâng mép lụa lên. Bên dưới là mảnh thẻ cháy sém từng ghi tên người chết ở lãnh cung. Chỉ còn hai chữ vẫn đọc được: A Tịch. Trên tấm lụa, ai đó viết bằng mực son một câu ngắn: “Người đã chết không nên chạm vào dấu của Trung cung.” Cuối câu không ký tên. Thay vào đó là một dấu phượng vuông, đuôi cong vào trong, vạch ngang ở góc dưới khuyết đúng một đoạn.

A Tịch đứng yên giữa mùi cam thảo và tro giấy. Nàng đã truy được lệnh cũ tới cửa Trung cung, nhưng người ở sau cánh cửa ấy cũng đã lần ngược dấu chân đến tên thật của nàng. Hoàng hậu không chỉ biết có kẻ đang đào hồ sơ Tạ Uyển Nghi. Bà ta biết người chết năm ấy vẫn còn sống.