Bỏ qua nội dung

Bàn Tính Dưới Hoa Đăng

Chương 72 - Chương 72: Người Thanh Liêm Giả

Chương 72: Người Thanh Liêm Giả

Thẩm Kính vừa nói xong, bùn nước trước kho cũ như cũng lạnh thêm một tầng. Ta nhìn đôi giày sạch đến mức gần như không thuộc về Thanh Châu của hắn, rồi nhìn những bàn chân trần sau lưng mình đang dính bùn, rách da, run vì đói và rét. Người đời nói Thẩm đại nhân thanh liêm, nhưng có những thứ sạch quá lại khiến người ta thấy sợ. Một chiếc áo không dính bùn giữa vùng lũ, nếu không phải vì hắn bay qua nước mà đến, thì chỉ có thể là vì luôn có người khác lội bùn thay hắn.

Trịnh bộ đầu cúi người rất thấp. Thẩm Kính không nhìn hắn, chỉ đưa mắt lướt qua bảy quyển sổ cứu tế, qua Vân Chi đứng trước cửa lều bệnh, qua Thanh Hành mặt trắng vì mất máu, rồi dừng ở ta. Hắn nói: “Mở kho trái lệnh, tự giữ nghi phạm, tụ dân trước kho quan, mỗi một tội đều đủ để đưa ngươi vào đại lao. Lục thiếu chủ tuổi còn trẻ, có lòng cứu dân là tốt, nhưng lòng tốt nếu vượt khỏi pháp lệnh, sẽ thành loạn.” Giọng hắn bình đến lạnh. Nếu ta chưa từng thấy giấy dầu ở miếu Thủy Quân, có lẽ cũng phải khen hắn diễn thật giống một vị quan vì đại cục mà đau lòng.

Ta chắp tay hành lễ: “Thẩm đại nhân nói đúng. Ta mở kho là phạm lệnh, việc ấy ta không chối.” Dân phía sau lại xôn xao, nhưng ta không quay đầu. Thừa nhận tội không phải cúi đầu; đôi khi là đặt cây đinh giấu trong tay đối phương lên bàn. Ta nói tiếp: “Nhưng nếu đại nhân muốn bắt ta, xin lập biên trước mặt dân Thanh Châu. Trên biên phải ghi rõ đêm lũ, kho quan khóa cửa, kho Lục gia mở cửa; lương phát ra bao nhiêu, còn lại bao nhiêu, người nhận tên gì, dấu tay ở đâu. Cũng xin ghi rõ Mạnh Cửu hiện sốt cao, mất máu, do Tạ gia y quán cứu chữa. Nếu chuyển đi mà chết, người ra lệnh chuyển chịu trách nhiệm.”

Vân Chi lập tức tiếp một câu, nhanh đến mức như đã đoán trước ta sẽ ném phần khó nhất sang nàng: “Ta có thể viết chứng trạng ngay. Mạch người bệnh hư, phổi có nước lạnh, vết thương cũ nhiễm mủ. Lúc này ép cung hay chuyển ngục đều là lấy mạng đổi lời khai. Nếu quan phủ muốn hỏi, ta cho hắn tỉnh nửa khắc; nếu muốn hắn chết, vậy khỏi cần hỏi ta.” Nàng nói xong thả chiếc khăn dính máu vào chậu đồng, tiếng nước khẽ vang mà sắc. Tạ Vân Chi xưa kia giấu bánh quế trong tay áo, bây giờ giấu kim châm và chứng trạng trong câu nói.

Thẩm Kính cuối cùng nhìn nàng lâu hơn một chút. “Tạ cô nương có y đức, đáng quý.” Hắn nhạt giọng, “Nhưng y đức không thể thay quốc pháp. Nghi phạm liên quan vụ đầu độc cháo và án quân lương cũ, phải giao quan phủ thẩm vấn. Vật chứng trong tay Lục gia, gồm sổ Đông khố, giấy bọc bột xám, lời khai Mạnh Cửu và bàn tính ngọc, cũng phải niêm phong đưa về nha môn.” Câu cuối rơi xuống, tay ta đặt trên bìa sổ cứu tế bỗng dừng lại. Sổ Đông khố và giấy bọc bột xám hắn biết, không lạ. Nhưng ba chữ bàn tính ngọc, cho đến lúc này, chưa hề được ghi vào bất cứ biên bản công khai nào.

Ta ngẩng đầu, rất chậm. “Thẩm đại nhân vừa nói bàn tính ngọc?” Ánh mắt hắn không đổi. “Nghe nói nhân chứng hồ ngôn trước khi ngất, nhắc tới di vật của mẫu thân ngươi. Vật liên quan án cũ, tự nhiên phải thu.” Ta hỏi: “Nghe ai nói?” Trịnh bộ đầu hơi động vai. Thanh Hành nhìn sang ta, sắc mặt vốn trắng nay càng trắng hơn, nhưng trong mắt đã có lửa. Ta nói từng chữ: “Đêm qua ở miếu Thủy Quân, lúc Mạnh Cửu nói bốn chữ ấy, có ta, Thanh Hành, A Mộc, hai dân bến và hai sát thủ. Một sát thủ chết tại chỗ, một sát thủ trốn thoát. Ta chưa ghi câu ấy vào biên. Hai dân bến chỉ được dặn nhớ vị trí xác và hướng kẻ chạy. Vậy xin hỏi đại nhân, người báo cho ngài biết bàn tính ngọc là ai?”

Không ai trong đám dân hiểu hết bốn chữ bàn tính ngọc đáng sợ ở đâu, nhưng họ hiểu vẻ im lặng của quan sai. Thẩm Kính nhìn ta, khóe môi vẫn nhạt: “Lục Hoài Tranh, ngươi đang ám chỉ bản quan thông đồng sát thủ?” Ta lắc đầu. “Ta không ám chỉ. Ta chỉ hỏi nguồn tin. Người làm sổ sợ nhất không phải con số lớn, mà là một dòng không có người chịu ký tên.” Ta đẩy một quyển giấy trắng về phía Trịnh bộ đầu. “Nếu Thẩm đại nhân muốn thu vật chứng, xin ghi rõ: vật chứng nào, do ai báo, ai giao, ai nhận, ai chịu trách nhiệm nếu nhân chứng chết hoặc vật chứng mất. Dân chúng ở đây đều có thể làm chứng.”

Thẩm Kính không lập tức đáp. Hắn chỉ đổi cách đánh, bình tĩnh như rút một quân cờ khác từ tay áo. “Dân chúng có thể làm chứng ngươi phát cháo, nhưng không thể phán án quân lương. Lục gia là thương hộ, lại từng dính tội thông địch của Tô Diên. Ngươi đem danh nghĩa cứu dân để che tội mở kho, đem một kẻ phu thuyền sốt mê làm lá chắn, sau đó kéo dân chúng ra trước quan phủ. Nếu bản quan hôm nay nhượng bộ, ngày mai Thanh Châu còn ai kính pháp?” Một người thanh liêm giả không cần la hét; hắn chỉ cần đứng phía trật tự, rồi đẩy tất cả người khác sang hỗn loạn.

Ta đáp: “Pháp lệnh đáng kính khi nó bảo vệ người sống, không phải khi nó che cho kho rỗng.” Ta ra hiệu cho A Mộc mở sổ đối chiếu Đông khố đã chép lại từ trước. “Đây là số lương quan phủ báo còn trước lũ. Đây là số bao thực tế tìm được trong kho Đông sau khi giấy bọc bột xám lộ ra. Đây là dấu nửa đồng tiền trên giấy bọc, trùng với ký hiệu ở mẫu đối lương cựu thức của lô Bính Thân mười hai năm trước. Đây là chữ ký phụ kiểm của Lục Thừa Viễn. Ta không nói Thẩm đại nhân tham ô. Ta chỉ nói trong tay đại nhân có lệnh giám vận Thanh Châu, còn trong kho đại nhân quản có lương biến mất. Nếu hôm nay chỉ hỏi tội Lục gia mở kho mà không hỏi kho quan vì sao rỗng, vậy pháp lệnh này đo bằng đấu gạo hay đo bằng mũ quan?”

Dân chúng không hô lên, nhưng ta nghe thấy hơi thở của họ đổi nhịp. Thứ đáng sợ nhất với người đứng trên cao là khoảnh khắc người dưới thấp bắt đầu biết so sánh. Thẩm Kính rốt cuộc quay sang Trịnh bộ đầu: “Niêm phong lều bệnh. Không ai được tự ý ra vào. Lục Hoài Tranh tạm chưa bắt, nhưng mọi sổ sách phải giữ nguyên tại chỗ, chờ lệnh kinh thành. Ai dám di chuyển vật chứng, lấy tội cản trở công vụ xử trước.” Hắn nói xong lại nhìn ta, giọng thấp hơn: “Ngươi tưởng dân tâm là tường. Tường bằng bùn gặp nước lớn, cũng sẽ sập.”

Ta cũng hạ giọng: “Vậy mong đại nhân nhớ kỹ, nước lớn từ đâu tới.” Trong lều, Mạnh Cửu bỗng ho một tiếng rất nặng. Vân Chi quay người vào trong, ta cũng bước theo nửa bước, nhưng quan sai lập tức chặn lại. Nàng lạnh mặt nhìn họ: “Muốn hắn sống để thẩm vấn thì tránh ra.” Lời này còn hữu dụng hơn thẻ bài của ta. Quan sai do dự rồi nhường một khe. Mạnh Cửu mở mắt, đồng tử mờ đục, môi run run. Hắn không nhìn rõ ta, lại như nhìn thấy chiếc áo quan màu sẫm ngoài màn vải, cả người co rúm. “Lô Bính Thân…” hắn thở dốc, “không đi thẳng quân trạm… rẽ ở Thạch Kiều… sổ sạch lên nha, sổ bẩn theo thuyền nhỏ… Tô nương nói… đường nước mới là sổ thật…”

Vân Chi lập tức ấn kim xuống, không cho hắn nói tiếp đến mức đứt hơi. Ta nghe bốn chữ Thạch Kiều, trong ngực như có một hạt bàn tính bị người gảy mạnh. Thẩm Kính phất tay áo: “Sốt mê nói nhảm, không thể làm chứng.” Ta gật đầu: “Đúng, chưa thể làm chứng. Vậy càng không thể để hắn chết trước khi tỉnh.” Câu ấy chặn lại tất cả đường muốn chuyển người của hắn trong lúc này. Thẩm Kính nhìn ta thêm một lát, rồi xoay người lên xe. Trước khi màn xanh buông xuống, hắn nói: “Lục Hoài Tranh, trong ba ngày sẽ có lệnh từ kinh thành. Đến lúc đó, dân Thanh Châu không cứu được ngươi.” Xe lăn qua bùn, sạch sẽ rời đi như lúc đến, chỉ để lại hai vệt bánh sâu.

Sau khi quan sai dựng dây niêm lều bệnh và kho cũ, ta để dân chúng lần lượt về chỗ trú, chỉ giữ lý trưởng, A Mộc, Thanh Hành và vài người ghi sổ ở lại. Người đông có thể thành tường, nhưng cũng có thể thành lửa nếu bị thổi sai hướng. Vân Chi từ trong lều đi ra, sắc mặt tái đi. Nàng đưa cho ta túi thuốc nhỏ: “Nửa khắc nữa hắn sẽ lại mê. Đừng hỏi thêm. Hỏi nữa, người chưa chết vì sát thủ cũng chết vì ngươi tính quá chăm.” Ta nhận túi thuốc, khẽ nói: “Ta nhớ rồi.” Nàng nhìn ta một cái, như muốn mắng nhưng cuối cùng chỉ thở ra: “Ngươi tốt nhất là thật sự nhớ.”

A Mộc lúc này mới ôm một hộp gỗ bọc vải dầu chạy tới. “Thiếu chủ, bàn tính ngọc.” Hắn hạ giọng, “Ngài dặn từ lúc trời vừa sáng, ta đã sai người vòng đường sau về Lục gia lấy. Không ai biết.” Ta mở vải dầu. Bàn tính ngọc nằm trong hộp, những hạt ngọc lạnh và nhẵn, vẫn giống món đồ cũ ta từng nhìn qua vô số lần. Vân Chi cúi xuống trước ta một bước. Nàng ghé gần ngửi, rồi nhíu mày: “Có mùi dầu tùng pha chu sa. Rất nhạt. Giống vệt sáp trên giấy bọc bột xám.” Thanh Hành khàn giọng: “Một cái bàn tính thì giấu được gì?” Ta đưa tay gảy nhẹ từng hạt. Có một hạt ở hàng thứ ba nặng hơn nửa phân, âm va vào khung không trong bằng những hạt còn lại.

Ta nhớ lời Mạnh Cửu: thứ biết tính sẽ giữ lại món nợ chưa ai dám tính. Lô Bính Thân thiếu ba trăm thạch. Ta đẩy ba hạt ở hàng trăm, bỏ trống hàng chục và hàng đơn, rồi ấn vào hạt nặng nhất. Một tiếng tách rất nhỏ vang lên. Mép khung bàn tính hé ra một khe mảnh như đường chỉ. Vân Chi dùng kim bạc khều nhẹ, kéo ra một mảnh giấy dầu cuộn chặt đã ngả màu. Trên giấy chỉ có những đường nước ngoằn ngoèo, ba điểm mực đỏ và bốn chữ nhỏ: Bến Nam, Thạch Kiều, Đông khố. Góc cuối bị xé mất, đúng chỗ đáng lẽ phải có dấu người giám vận. Ta nhìn mảnh bản đồ nằm trong lòng bàn tay. Mẫu thân không để lại câu trả lời cho ta. Bà để lại đường đi của món nợ, và ở cuối con đường ấy, người thanh liêm giả vẫn còn đang chờ.