Chương 73: Kinh Thành Gửi Dao Xuống
Ủng hộ Lăng Kính Truyện
Mở ưu đãi một lần để tiếp tục đọc. Thông báo này chỉ hiện lại sau 4 giờ.
Mở ưu đãi và tiếp tục đọcChương 73: Kinh Thành Gửi Dao Xuống
Mảnh bản đồ nằm trong lòng bàn tay ta, nhẹ đến mức gần như không có trọng lượng, nhưng cả kho cũ dường như vì nó mà nặng xuống. Ngoài dây niêm, quan sai còn đứng rải rác dưới mái hiên, áo tơi đẫm nước, tay đặt trên chuôi đao. Bên trong dây niêm, dân chúng đã tản đi quá nửa, chỉ còn mùi cháo loãng, mùi thuốc và mùi bùn lũ quấn vào nhau. Ta nhìn ba điểm mực đỏ trên giấy dầu: Bến Nam, Thạch Kiều, Đông khố. Một đường nước cong như vết sẹo chạy qua cả ba nơi ấy. Mẫu thân không viết một lời oan khuất. Bà chỉ vẽ đường đi của lương.
Thanh Hành tựa vào cột gỗ, môi trắng bệch vì vết thương, nhưng mắt lại sáng đến đáng sợ. Hắn khàn giọng hỏi: “Góc bị xé mất đúng chỗ dấu giám vận?” Ta gật đầu. Vân Chi cầm kim bạc khều nhẹ mép giấy, không để tay chạm trực tiếp vào vệt dầu cũ. Nàng nói: “Vết xé không cùng tuổi với giấy. Giấy đã ngả vàng, mép xé lại còn hơi sạch, mùi dầu tùng ở đó cũng đậm hơn. Có người từng mở nó sau mẫu thân ngươi.” Câu ấy làm kho cũ im đi. Bàn tính ngọc từng nằm trong Lục gia nhiều năm, nhưng nếu có người đã mở qua, vậy chứng cứ không chỉ bị giấu, mà còn bị lựa chọn giữ lại một phần và xé mất một phần. Ta bỗng nhớ những lần Lục Sùng nhìn bàn thờ Tô Diên mà không nói, nhớ Lục Thừa Viễn cúi đầu trước chữ ký phụ kiểm của chính mình.
Ta cuộn mảnh bản đồ lại, đặt cạnh bàn tính ngọc. “A Mộc, gọi lý trưởng và hai người ghi sổ cứu tế vào. Viết biên.” A Mộc sửng sốt: “Thiếu chủ, bây giờ viết biên khác nào báo cho Thẩm Kính biết chúng ta có gì?” Ta đáp: “Hắn đã biết bàn tính ngọc trước khi chúng ta nói ra. Thứ giấu trong tay áo không còn là bí mật, chỉ là lý do để hắn vu cho ta giấu vật chứng. Viết biên trước dân, hắn muốn cướp cũng phải cướp một món đã có tên.” Ta bảo người chép rõ giờ khắc mở bàn tính, ai có mặt, giấy dầu dài rộng bao nhiêu, trên đó có ba địa danh nào, góc nào bị xé mất. Mỗi chữ viết xuống đều giống một chiếc đinh đóng vào ván cầu giữa nước lũ.
Vân Chi không ngăn ta, chỉ đứng cạnh mài mực. Nàng mài rất đều, cổ tay nhỏ nhưng lực không loạn. Một lúc sau, nàng hạ giọng: “Mạnh Cửu không chịu nổi đường xóc. Nếu Thẩm Kính thật sự dùng lệnh kinh thành chuyển hắn đi, ta chỉ có thể giữ hắn tỉnh nửa khắc, nhiều hơn là lấy mạng hắn đổi lời.” Ta nhìn về phía lều bệnh bị niêm, dây đỏ trước cửa ướt nước mưa, dính trên vải như một vệt máu mỏng. “Ta biết.” Nàng liếc ta: “Ngươi biết là một chuyện, ngươi có chịu nhớ hay không là chuyện khác.” Người sống sót qua mưa lũ đôi khi không cần một lời thề lớn; chỉ cần có người đứng cạnh, dám nói với ngươi rằng không được đem mạng người khác đặt lên bàn tính quá nhanh.
Biên bản vừa viết xong, tiếng vó ngựa đã dội tới từ đầu phố. Không phải một con, mà là ba con, đi rất gấp. Quan sai ngoài dây niêm lập tức thẳng lưng. Trịnh bộ đầu vốn đang tránh dưới mái hiên cũng đổi sắc mặt, vội chạy ra nghênh. Ta nghe tiếng chuông đồng treo trước yên ngựa, loại chuông dùng cho trạm dịch truyền công văn khẩn. Thanh Hành cười lạnh một tiếng: “Ba ngày của Thẩm Kính ngắn thật.” Ta đặt bút xuống. Mực trên biên bản còn chưa khô, kinh thành đã gửi dao xuống Thanh Châu. Hắn không phải quan lớn, nhưng hộp trong tay hắn có phong sáp đỏ và dấu hình mây triện.
Thẩm Kính đến sau công văn nửa chén trà. Xe của hắn vẫn sạch hơn con đường lầy, như thể bùn đất Thanh Châu tự biết tránh quan phục. Hắn xuống xe, nhìn thấy ta đứng cạnh bàn biên, ánh mắt dừng một thoáng trên mảnh giấy dầu, rồi lập tức bình thản như không hề bất ngờ. Sứ giả kinh thành mở hộp, đọc lệnh trước kho cũ. Nội dung không dài, nhưng từng câu đều được mài sắc: Lục gia tự mở kho trong lúc thiên tai, tụ dân trước kho quan, giữ nghi phạm Mạnh Cửu, cản trở quan phủ tra án; lệnh cho Thẩm Kính tạm quyền hợp thẩm, thu toàn bộ vật chứng liên quan án quân lương cũ, chuyển nghi phạm về nha môn để lấy lời khai; Lục Hoài Tranh không được rời Thanh Châu, chờ xét tội sau khi lũ rút. Nếu có người cản trở, có thể khóa giải trước, tấu trình sau.
Ta chắp tay hành lễ, hỏi: “Xin sứ giả cho xem ngày ký lệnh.” Sứ giả nhíu mày. Thẩm Kính nhạt giọng: “Lục Hoài Tranh, công văn triều đình không phải sổ hàng cho ngươi kiểm.” Ta đáp: “Chính vì không phải sổ hàng nên càng phải rõ ngày. Nếu lệnh đến trước khi Mạnh Cửu được cứu, vậy ai báo kinh thành rằng Lục gia giữ nghi phạm? Nếu lệnh đến sau, vậy tại sao trong phụ lục đã ghi bàn tính ngọc là vật chứng phải thu?” Trịnh bộ đầu hít vào rất khẽ. Sứ giả nhìn ta, rồi lại nhìn Thẩm Kính. Cuối cùng hắn mở phần phụ lục cho ta nhìn từ xa. Chữ trên chính lệnh đều đều, còn mấy dòng cuối ở phụ lục hơi đậm hơn, mực bám trên giấy chưa cũ bằng phần đầu.
Thẩm Kính không cho ta thêm thời gian nhìn. Hắn khép phụ lục lại, giọng ôn hòa: “Ngươi hỏi xong chưa? Nếu xong, giao bàn tính ngọc, bản đồ, sổ Đông khố và người.” Ta nói: “Giao vật chứng có thể. Nhưng xin lập danh mục ba bên: quan phủ, Lục gia, lý trưởng dân cứu tế cùng ký. Mảnh bản đồ này vừa được mở trước nhiều người, góc bị xé mất. Nếu sau khi vào nha môn lại mọc thêm dấu giám vận, hoặc mất luôn cả ba địa danh, vậy người nhận phải chịu trách nhiệm.” Lý trưởng phía sau nghe đến tên mình, mặt xanh mét, nhưng vẫn run run bước lên. Sứ giả kinh thành do dự. Có lẽ hắn không muốn bị kéo vào nước đục Thanh Châu, nhưng cũng không muốn công văn mình mang đến biến thành trò cướp vật chứng trước dân. Hắn nói: “Theo lệ, vật chứng quan trọng nên lập danh mục.”
Đây là lần đầu tiên trong đêm ấy, sắc mặt Thẩm Kính thật sự lạnh xuống. Chỉ một khe rất nhỏ, nhanh như ánh đao lướt qua nước, rồi hắn lại cười. “Được. Lập danh mục.” Hắn thắng phần lớn rồi, không cần tranh một góc nhỏ để mất vẻ thanh liêm. Nhưng ta biết chính góc nhỏ ấy là nơi người làm sổ sống sót. A Mộc chép danh mục bằng tay run mà nét không loạn: bàn tính ngọc một chiếc; giấy dầu một mảnh; bản đồ có Bến Nam, Thạch Kiều, Đông khố; góc đông nam bị xé, thiếu dấu. Ta ấn dấu Lục gia xuống. Lý trưởng ấn ngón tay vào mực đỏ. Sứ giả đóng dấu phụ. Thẩm Kính cuối cùng mới đặt ấn quan lên trên cùng.
Đến lượt Mạnh Cửu, Vân Chi bước thẳng tới trước cửa lều bệnh. Quan sai muốn chắn, nàng đã lấy chứng trạng ra trước: “Người bệnh sốt cao, mất máu, phổi nhiễm nước lạnh. Nếu chuyển ngay, trên đường chết quá bảy phần. Nếu quan phủ buộc chuyển, ta xin ghi rõ tên người hạ lệnh và người nhận xác.” Thẩm Kính nhìn nàng rất lâu. “Tạ cô nương có thể đi cùng xe tù, chăm sóc nghi phạm.” Vân Chi lại cười trước khi ta kịp nói. “Được. Nhưng ta không đi với tư cách phạm nhân, cũng không đi một mình. Ta mang hai y nữ, thuốc do ta kiểm, xe do quan phủ niêm, mỗi nửa canh lập một lần mạch trạng. Nếu người chết, mạch trạng sẽ ghi hắn chết dưới tay ai.” Nàng nói rất nhẹ, nhưng từng chữ giống kim bạc, không giết người mà khiến người ta không dám nuốt.
Ta quay sang sứ giả: “Xin ghi thêm vào biên chuyển người.” Sứ giả đã lỡ đứng trong vũng nước này, chỉ có thể gật đầu. Thẩm Kính nhìn ta, ánh mắt lần này không giấu lạnh nữa. Ta cũng nhìn hắn. Giữa chúng ta là bàn tính ngọc đã bị thu, là Mạnh Cửu còn thở yếu trong lều, là Vân Chi đứng trước dây niêm với áo tay dính mùi thuốc, và là một đạo lệnh từ kinh thành đủ khóa ta ở Thanh Châu.
Đêm xuống hẳn, xe tù chưa đi ngay vì Vân Chi bắt quan sai thay ván lót, đốt than, kiểm từng bình thuốc. Nàng tranh từng khắc bằng y lý, ta tranh từng khắc bằng biên bản. Khi nàng đi ngang qua ta, chỉ khẽ nhét vào tay ta một mảnh giấy nhỏ. Trên đó là bốn chữ viết vội: “Thạch Kiều, giờ Tý.” Ta nhìn nàng. Ta cất mảnh giấy vào tay áo, rồi gọi A Mộc đến. Từ lúc Mạnh Cửu nói đường nước mới là sổ thật, ta đã sai người cứu tế ở Bến Nam để mắt đến thuyền quan và thuyền lương.
Gần cuối canh hai, A Mộc đội mưa chạy về, cả người bùn nước, thở không ra hơi. Hắn quỳ một gối trước mặt ta, đưa lên một mảnh vải buồm bị cháy sém. Trên vải có dấu nửa đồng tiền, mờ nhưng còn nhận được. “Thiếu chủ,” hắn nói, giọng khàn đi vì lạnh, “Bến Nam có thuyền quan vừa rời bến, không chở lương, chỉ chở hai hòm sắt và ba người bị trùm đầu. Hướng đi là Thạch Kiều.” Ta nhìn mảnh vải buồm trong ánh đèn dầu. Kinh thành gửi dao xuống, Thẩm Kính muốn dùng dao ấy chặt đứt tay ta trước khi ta kịp ghép sổ. Nhưng nếu con dao đã rơi xuống Thanh Châu, vậy ta chỉ còn một cách. Ta đặt ba hạt bàn tính tưởng tượng vào trong đầu: Bến Nam, Thạch Kiều, Đông khố. Rồi ta nói: “Chuẩn bị người. Trước khi trời sáng, chúng ta đi đón cuốn sổ thật.”
