Bỏ qua nội dung

Bàn Tính Dưới Hoa Đăng

Chương 71: Dân Tâm Là Bức Tường

Mạnh Cửu nói xong bốn chữ bàn tính ngọc, cả miếu Thủy Quân như bị một bàn tay vô hình bóp chặt. Ta nhìn xác sát thủ nằm nghiêng trên nền gạch, nhìn vai Thanh Hành đang rỉ máu, rồi lại nhìn người phu thuyền gầy đến mức chỉ còn đôi mắt sống sót. Có một khoảnh khắc rất ngắn, ta thật sự muốn quay về Lục gia ngay lập tức, đập vỡ từng hạt bàn tính ngọc để tìm xem mẹ đã giấu gì trong đó. Nhưng Vân Chi viết đúng. Người sống trước, hỏi chuyện sau. Chứng cứ chết có thể chờ thêm một đêm, người sống thì không.

Ta bảo A Mộc lấy dây thừng trói quanh bốn cột miếu, không cho ai bước vào phạm vi xác chết và đoản đao. Hai lão phu thuyền run đến mức mái chèo gõ lạch cạch vào thềm đá, ta bèn nhờ họ đứng ở cửa chính, mỗi người nhớ rõ một việc: người áo tơi cầm đoản đao chết ở đâu, kẻ cầm dù chạy theo hướng nào. Người sợ hãi nhất không nên bị ép làm anh hùng; chỉ cần họ nhớ đúng điều mắt mình thấy, đêm nay đã không thể bị viết lại hoàn toàn. Ta lại sai một tiểu tử bến Nam chạy về lều cháo, gọi người của thương đội mang cáng, thuốc và sổ cứu tế tới. Tiểu tử ấy hỏi có cần gọi quan phủ không. Ta nhìn trời mưa trắng xóa ngoài sân miếu, nói: “Gọi. Nhưng gọi cả dân đã nhận cháo, nhận thuốc, nhận chỗ trú. Quan phủ có bút, dân chúng cũng có mắt.”

Khi chúng ta đưa Mạnh Cửu ra khỏi miếu, canh ba đã qua. Hắn nằm trên cáng, một tay còn nắm chặt vạt áo rách, như sợ chỉ cần buông ra là lại bị đẩy xuống nước mười mấy năm trước. Thanh Hành đi bên cạnh, môi trắng bệch, còn cố cãi rằng vết thương không sâu. Ta nhìn máu thấm qua lớp vải băng, lạnh giọng nói: “Ngươi còn nói thêm một câu, ta bảo người khiêng cả ngươi lên cáng.” Hắn nghẹn lại, tức đến bật cười một tiếng rất nhẹ, rồi thật sự im. Đêm nay hắn đã dùng vai mình trả lời câu hỏi mà rất nhiều người Lục gia né tránh: nếu sự thật kéo cha ruột xuống, hắn có còn dám cứu người giữ sự thật hay không.

Lều cứu tế dựng cạnh kho cũ sáng đèn suốt đêm. Vân Chi đứng dưới mái vải, tóc ướt dính bên má, tay áo xắn lên, vừa nhìn thấy cáng đã lập tức đi tới. Nàng không hỏi ta có bị thương không trước, cũng không hỏi Mạnh Cửu đã khai gì, chỉ cúi xuống xem hơi thở, xem môi, xem mạch, rồi bảo người đun nước nóng, trải chiếu khô, chuẩn bị kim châm và thuốc cầm máu. Đến lúc quay sang Thanh Hành, nàng mới nhíu mày: “Lục công tử, ngươi thích để máu chảy thay nước mưa lắm sao?” Thanh Hành đang cố giữ mặt mũi, bị nàng nói một câu liền câm như đá. Ta vốn không nên cười trong tình cảnh này, nhưng khóe miệng vẫn nhúc nhích. May mà mưa đủ lớn, che được chút tiếng người còn biết sống.

A Mộc đem sổ cứu tế tới nhanh hơn ta nghĩ. Đó không phải một quyển sổ, mà là bảy quyển: sổ mở kho, sổ phát cháo, sổ thuốc men, sổ người bị thương, sổ thuyền đưa dân qua nước, sổ chỗ trú trong kho cũ, và sổ lương còn lại sau từng canh. Từ ngày quyết định mở kho, ta đã bắt mỗi nhóm ghi riêng, mỗi mục có hai người đối chiếu, người biết chữ ký tên, người không biết chữ điểm chỉ hoặc nhờ trưởng xóm làm chứng. Lúc đó không ít người chê ta rườm rà. Trong nạn lũ, có cháo nóng đã là phúc, ai còn muốn cúi đầu đếm từng bát? Nhưng ta từng thấy quá nhiều tai họa bắt đầu từ câu “đại khái là đúng”. Một bát cháo không ghi, ngày sau có thể thành một bao lương bị vu. Một người được cứu không ghi, ngày sau có thể thành một người bị xóa khỏi miệng đời.

Trời vừa rạng xám, quan sai đã tới. Người dẫn đầu là Trịnh bộ đầu, mặt dài, ria mép mỏng, trên áo còn khô hơn áo của dân bến. Hắn liếc qua lều bệnh, qua cáng của Mạnh Cửu, qua cánh tay băng vải của Thanh Hành, rồi mở miệng đã nói chúng ta tụ chúng trái phép, tự ý giữ nghi phạm, lại còn phá hiện trường án mạng. Ta không vội đáp. Người càng muốn ta nóng giận, càng chứng tỏ hắn cần một câu nói sai để cột tội. Ta chỉ bảo A Mộc kê một chiếc bàn tre ra trước lều, đặt bảy quyển sổ lên, từng quyển mở ở trang cuối. Sau đó ta nhìn Trịnh bộ đầu, nói: “Bắt ta có thể. Nhưng trước khi bắt, xin bộ đầu ghi rõ vào án rằng đêm qua tại miếu Thủy Quân có hai dân bến tận mắt thấy sát thủ diệt khẩu, một người chết do cắn độc, một người chạy về phía sông. Cũng xin ghi rõ Mạnh Cửu hiện là bệnh nhân do Tạ gia y quán cứu chữa, nếu chết trên đường áp giải, trách nhiệm thuộc về người ra lệnh chuyển hắn.”

Trịnh bộ đầu sa sầm mặt: “Ngươi uy hiếp quan phủ?” Ta lắc đầu: “Ta chỉ giúp quan phủ ghi sổ cho khỏi sai.” Câu ấy rơi xuống, đám dân tụ bên ngoài lều im phăng phắc một nhịp, rồi không biết ai bật ra tiếng cười nghẹn. Tiếng cười ấy rất nhỏ, nhưng làm mặt Trịnh bộ đầu càng khó coi. Hắn phất tay định cho người vào lều khiêng Mạnh Cửu đi. Vân Chi bước lên chắn trước cửa lều, tay vẫn cầm khăn dính máu, giọng không lớn mà rõ: “Người này sốt cao, mất máu, mạch hư. Dời đi lúc này, chết trên đường là chuyện dễ hơn sống. Nếu quan gia cần lời khai, ta có thể để hắn tỉnh nửa khắc. Nếu quan gia cần một xác chết, vậy xin nói thẳng, ta đỡ phải phí thuốc.”

Quan sai phía sau nàng khựng lại. Dân đứng ngoài lều cũng khựng lại, rồi những khuôn mặt bị lũ ngâm tái nhợt dần dần ngẩng lên. Một bà lão ôm đứa cháu ho khan bước ra trước, nói chính Tạ cô nương đã cứu cháu bà khỏi cơn sốt. Một phu khuân vác nói Lục gia mở kho cho bọn họ ăn hai ngày, mỗi bữa đều có người ghi tên, cân gạo trước mặt dân. Một người đàn ông mất nửa mái nhà run run giơ bàn tay còn dính mực điểm chỉ, nói trong sổ có tên vợ hắn, vì vợ hắn đang nằm ở lều trong, không thể tự ra làm chứng. Ta không bảo họ quỳ, cũng không bảo họ khóc. Ta chỉ để A Mộc đọc từng nhóm tên trong sổ, người nào có mặt thì đáp một tiếng, người nào không có mặt thì trưởng xóm nói lý do. Tiếng đáp ban đầu thưa thớt, sau đó nối thành một dải dài, từ lều cháo lan đến sân kho cũ, từ sân kho cũ lan ra con đường bùn trước cửa.

Đó không phải cảnh dân chúng xông lên chống quan. Nếu là chống quan, Thẩm Kính sẽ có cớ chém xuống rất nhanh. Ta cần họ đứng đúng vị trí của mình: người nhận cháo nói nhận cháo, người nhận thuốc nói nhận thuốc, người thấy sát thủ nói thấy sát thủ, người ghi sổ nói ghi sổ. Dân tâm nếu chỉ là tiếng hô, rất dễ bị gọi thành loạn dân; dân tâm khi biến thành từng cái tên, từng dấu tay, từng bát cháo có người nhận và từng mạng người có người nhớ, mới là bức tường khó đẩy ngã. Trịnh bộ đầu nhìn bảy quyển sổ, lại nhìn hàng trăm con mắt sau lưng ta, bàn tay đặt trên chuôi đao nhưng mãi không rút ra.

Hắn đổi giọng, nói tội mở kho trái lệnh của Lục gia vẫn còn đó. Ta gật đầu: “Còn. Ta không chối.” Đám người phía sau xôn xao, Vân Chi quay đầu nhìn ta, trong mắt có lo lắng rất thật. Ta nhìn nàng một cái để nàng yên tâm, rồi tiếp: “Nhưng xin bộ đầu cũng ghi cùng một trang: kho quan niêm phong khi dân đói, kho Lục gia mở khi nước ngập, lương phát ra bao nhiêu còn lại bao nhiêu đều có sổ. Nếu triều đình muốn hỏi tội, ta sẽ đứng ra nhận. Nhưng nếu có người muốn mượn tội ấy để bắt nhân chứng vụ diệt khẩu trước mặt dân bến, vậy phải hỏi những người được cứu này có quên được đêm mưa hay không.”

Không ai hô hào. Chính sự im lặng sau câu ấy mới làm người ta nghẹt thở. Bà lão ôm cháu lặng lẽ đứng sát thêm một bước. Phu khuân vác đứng sát thêm một bước. Những người từng chen nhau vì một bát cháo, từng nghi ngờ nồi cháo có độc, từng sợ Lục gia và quan phủ đều như nhau, lúc này không đẩy, không mắng, chỉ đứng thành từng hàng phía sau bàn tre. Vai Thanh Hành run lên vì đau, nhưng hắn vẫn đứng cạnh ta. Vân Chi đứng trước lều bệnh. A Mộc giữ sổ. Mạnh Cửu nằm sau màn vải, hơi thở yếu nhưng còn. Ta bỗng hiểu, trên đời này có những bức tường không xây bằng đá. Nó xây bằng những lần người ta được cứu đúng lúc, và bằng việc họ biết tên người đã cứu mình.

Trịnh bộ đầu cuối cùng hạ tay khỏi chuôi đao. Hắn nói sẽ bẩm lại đại nhân, tạm thời niêm lều bệnh, cử người canh giữ, không cho ai tự ý đưa Mạnh Cửu đi. Đó không phải thắng lợi sạch sẽ, càng không phải bình an. Nhưng trong ván cờ này, chỉ cần quan phủ không thể lập tức kéo người đi, Thẩm Kính đã mất nhịp. Ta vừa định bảo A Mộc chép thêm một bản danh sách nhân chứng, ngoài đường bỗng vang lên tiếng bánh xe nghiến qua bùn. Đám đông tự động tách ra, không phải vì bị quát, mà vì thứ im lặng lạnh lẽo đi trước chiếc xe ấy. Một cỗ xe phủ màn xanh dừng trước kho cũ. Trịnh bộ đầu vừa thấy ký hiệu trên đèn treo đã biến sắc, cúi người thật thấp.

Màn xe được vén lên. Thẩm Kính bước xuống, áo quan màu sẫm không dính một giọt bùn, như thể trận lũ Thanh Châu chỉ là một vệt mực lỡ tay trên công văn của hắn. Hắn nhìn qua bảy quyển sổ trên bàn, nhìn dân chúng sau lưng ta, cuối cùng ánh mắt dừng ở cửa lều nơi Mạnh Cửu đang nằm. Khóe môi hắn nhạt đến mức gần như không phải cười. “Lục thiếu chủ,” hắn nói, “ngươi thật biết lấy dân tâm làm tường.” Ta đặt tay lên quyển sổ cứu tế còn ẩm nước mưa, đáp: “Thẩm đại nhân nói sai rồi. Tường này không phải ta lấy. Là các người tự tay đẩy dân đến sau lưng ta.”