Chương 68: Sổ Lương Năm Xưa
Ủng hộ Lăng Kính Truyện
Mở ưu đãi một lần để tiếp tục đọc. Thông báo này chỉ hiện lại sau 4 giờ.
Mở ưu đãi và tiếp tục đọcChương 68: Sổ Lương Năm Xưa
Mảnh giấy có hai chữ “Đông khố” nằm trên khay gỗ như một con cá chết vừa được vớt khỏi nước lũ. Không ai trong lều cháo nói lớn nữa. Tiếng mưa, tiếng người bệnh nôn khan, tiếng củi ướt nổ lép bép bên bếp đều bị kéo xa đi, chỉ còn ánh mắt của mọi người dính chặt vào vệt sáp đỏ nhòe trên mép giấy. Ta không vội kết luận. Một mảnh giấy không thể tự biến thành án, cũng không thể tự cứu Lục gia khỏi cái thòng lọng tội mở kho. Nhưng nó đủ để nói với ta rằng người đặt bẫy không chỉ muốn làm dân sợ bát cháo của Lục gia. Hắn muốn chúng ta tự tay dập tắt ngọn đèn vừa thắp lên trong đêm lũ này.
Lục Thừa Viễn đứng cách ta ba bước, tay vẫn giấu trong tay áo, nét mặt bình ổn đến mức gần như nhẫn nại. Ông ta nhìn mảnh giấy, rồi nhìn nồi cháo đã đậy kín, chậm rãi nói: “Hoài Tranh, chuyện liên quan kho quan không phải chuyện trong nhà. Ngươi đã tự tiện mở kho, giờ lại muốn chạm vào vật chứng của quan phủ, chỉ sợ càng nói càng sai.” Giọng ấy vẫn là giọng của trưởng bối khuyên con cháu giữ mình, mỗi chữ đều phủ một lớp tro ấm. Nếu không có hai chữ “kho quan” ông ta lỡ nói khi nãy, có lẽ vẫn có người tin ông ta đang thật lòng lo cho Lục gia.
Ta đáp: “Nhị thúc nói đúng, chuyện kho quan không phải chuyện trong nhà. Vì vậy mới cần lý trưởng, tộc lão và dân chúng cùng nhìn. Vật chứng ở đâu phát hiện, ai phát hiện, ai chạm vào, phải ghi rõ từng dòng trước khi giao quan.” Ta quay sang quản sự già: “Mang sổ phát cháo, sổ mở kho tối nay, và sổ đối chiếu kho vận trong hòm niêm từ từ đường đến. Chọn hai người đi cùng, một người của trưởng phòng, một người của nhị phòng. Đi dưới mắt Thanh Hành.” Thanh Hành lập tức gật đầu, mưa chảy dọc cằm nhưng mắt sáng khác thường. Hắn từng ghét ta nhất, giờ lại là người đầu tiên hiểu vì sao mỗi bước phải có người chứng kiến.
Vân Chi vẫn ngồi bên lều bệnh. Nàng vừa cho cô bé uống thêm một ngụm nước ấm, vừa khàn giọng nhắc A Mộc ghi lại ai đau bụng, ai nôn, ai chỉ chóng mặt. Khi nghe ta nhắc đến sổ đối chiếu, nàng ngước lên nhìn ta. Trên mặt nàng còn dính một vệt tro nhỏ, môi trắng bệch vì lạnh, nhưng ánh mắt lại tỉnh táo đến đau lòng. Nàng không hỏi ta có chắc không. Nàng chỉ nói: “Nếu phải mở sổ ở đây, để xa người bệnh. Bột này không được bay vào thuốc.” Một câu ấy kéo ta trở về với việc quan trọng nhất. Ta bảo người dời khay chứng sang bàn gỗ cạnh cột, đốt thêm đèn, mở vải dầu che mưa. Sự thật dù lạnh đến đâu cũng không nên đặt ngay cạnh người đang run vì độc.
Không lâu sau, sổ được đưa tới. Hòm gỗ từ từ đường đã ngấm ẩm ở góc, nhưng dây niêm vẫn nguyên. Ta để lý trưởng Hạ Hà tự kiểm niêm trước, rồi mới mở nắp. Bên trong có ba quyển sổ ta đã cho giữ riêng từ ngày mở lại kho Tây: một quyển ghi lương Lục gia tự trữ, một quyển ghi lương quan ký gửi qua các năm, và một quyển mỏng hơn, bìa cũ đến mức mép giấy xù như áo tang cũ. Trên bìa quyển mỏng ấy viết bốn chữ: “Đối lương cựu thức”. Khi còn bị giam ở từ đường, ta từng thấy ký hiệu giống hệt trên sổ mục nát dưới chân bàn thờ. Khi ấy ta chỉ nghĩ đó là thói quen ghi chép của người xưa. Giờ mới hiểu, có những thói quen không chết, chỉ đổi người cầm bút.
Ta mở quyển sổ hiện dùng của Đông khố trước. Dòng mực ghi bao lương số mười bảy, mười tám, mười chín đều thẳng hàng quá mức, sạch sẽ quá mức, giống một khuôn mặt vừa rửa sạch bùn để che vết thương bên dưới. Số lượng nhập là ba trăm thạch, xuất cứu tế theo lệnh quan là một trăm hai mươi thạch, tồn một trăm tám mươi thạch. Nếu chỉ nhìn sổ, kho Đông vẫn đầy đủ, thậm chí còn ngay ngắn hơn cả kho nhà giàu chuẩn bị cưới hỏi. Nhưng bao lương chúng ta mở tối qua đã chứng minh trong ruột chỉ có cám mốc và trấu nặng, lương thật bị rút đi từ trước. Sổ đẹp đến đâu cũng không nấu thành cháo được.
Tạ Hành Chu bước tới, tay áo còn vương mùi thuốc giải. Ông không chạm vào sổ, chỉ cúi xuống nhìn vệt sáp trên mảnh giấy. Sắc mặt ông trầm đi rất nhanh. Ta hỏi nhỏ: “Tạ thúc nhận ra?” Ông im lặng một lát, rồi nói: “Mười hai năm trước, khi kho vận quân lương qua Thanh Châu, giấy bọc thuốc phòng mọt cũng đóng sáp đỏ như thế. Khi đó quan vận nói thuốc để chống mối mọt trên đường thủy, không được phát cho dân, càng không được đưa gần bếp.” Mười hai năm trước. Bốn chữ ấy như một bàn tay ướt lạnh đặt lên gáy ta. Đó là năm mẹ ta bị vu tội, cũng là năm cả Lục gia bắt đầu học cách không nhắc đến tên Tô Diên trước mặt ta.
Ta lật quyển “Đối lương cựu thức”. Những dòng chữ cũ mở ra dưới đèn dầu, mùi giấy mục và mùi mưa quyện thành một thứ hương rất giống từ đường đêm đầu ta tỉnh lại. Cách ghi trong sổ cũ không hoàn toàn giống sổ hiện tại, nhưng thứ tự cột lại giống đến gai người: kho, số bao, trọng lượng, dấu sáp, người phụ kiểm, người nhận, hao hụt cho phép. Ở vài trang, góc dưới có ký hiệu nhỏ hình nửa đồng tiền. Trên giấy bọc bột xám cũng có một nét cong như thế, bị nước làm nhòe còn lại một nửa. Ta đặt hai thứ cạnh nhau. Lý trưởng Hạ Hà nheo mắt, tộc lão Lục Trọng run run chỉ vào nét cong: “Cùng một mẫu.”
Lục Thừa Viễn cười nhẹ: “Mẫu sổ kho vận giống nhau thì có gì lạ? Lục gia từng làm kho, quan phủ cũng làm kho. Chẳng lẽ thấy cùng một hàng cột là kết tội được người?” Ông ta nói đúng một nửa, và người nguy hiểm nhất thường sống trong nửa đúng ấy. Ta gật đầu: “Không kết tội bằng hàng cột. Kết tội bằng người ký.” Ta lật đến trang đối chiếu năm cũ, nơi ghi lô quân lương từng qua Đông khố rồi chuyển về bến Nam. Dòng người phụ kiểm không phải tên phụ thân ta, cũng không phải tên quản kho cũ đã chết. Nét chữ hơi nghiêng, cuối chữ Viễn kéo dài một nét như lưỡi câu. Trên đó viết: Lục Thừa Viễn, phụ kiểm tạm quyền.
Trong lều, có người hít một hơi lạnh. Thanh Hành đứng ngoài cửa, bàn tay siết chặt cán đao đến trắng khớp. Ta không nhìn hắn quá lâu. Một đứa con nghe tên cha mình rơi xuống bùn trước mặt dân chúng, dù cha ấy có đáng nghi đến đâu, cũng không nên bị biến thành trò cho người khác xem. Ta chỉ nhìn Lục Thừa Viễn: “Nhị thúc từng nói năm đó mình không chạm vào tuyến quân lương. Hóa ra không chạm, chỉ phụ kiểm.” Mặt ông ta cuối cùng cũng đổi sắc, không nhiều, nhưng đủ. Ông ta nhìn trang sổ như nhìn một người chết vừa đội mồ ngồi dậy, rồi nhanh chóng kéo lại giọng: “Sổ cũ có thể bị sửa. Ngươi giữ sổ trong tay, muốn viết gì chẳng được?”
Ta khép sổ lại một nửa. “Vậy càng phải để quan phủ và dân chứng cùng xem niêm. Nhưng trước khi giao, ta phải chép lại toàn bộ dòng liên quan, kèm người làm chứng. Nếu sáng mai trang này biến mất, ít nhất mọi người còn biết nó từng tồn tại.” Quản sự già lập tức mài mực. Vân Chi từ bên kia lều cất giọng, khàn nhưng rõ: “Ta làm chứng. Vệt sáp trên giấy bọc và vệt sáp mẫu trong sổ cũ có cùng mùi dầu tùng pha chu sa, không phải sáp niêm nhà Lục gia.” Nàng nói xong liền ho một tiếng, phải vịn vào cạnh bàn thuốc. Ta rất muốn bảo nàng im đi, để nàng giữ chút sức còn lại cho người bệnh. Nhưng ta biết nàng ghét nhất bị đẩy ra ngoài khi sự thật đang mở cửa. Vì vậy ta chỉ bảo A Mộc đem cho nàng áo khoác khô.
Chúng ta vừa chép được ba dòng thì ngoài sân vang lên tiếng vó ngựa dẫm bùn. Không phải tiếng dân chạy loạn. Tiếng ấy đều, gấp, có kỷ luật, giống dao gõ vào vỏ. Một toán nha sai mặc áo tơi đen tiến vào, người đi đầu giơ lệnh bài quan vận, giọng lạnh đến mức mưa cũng phải né: “Theo lệnh Thẩm giám vận, vụ đầu độc phát cháo liên quan kho quan, toàn bộ vật chứng phải lập tức thu về nha môn. Ai cản trở, xử tội chống lệnh.” Đám đông vừa lắng xuống lại xôn xao. Ta nhìn lệnh bài, trong lòng không hề bất ngờ. Thẩm Kính không cần biết độc có giết được ai không. Chỉ cần hai chữ Đông khố bị phát hiện, hắn nhất định sẽ tới thu lưới.
Ta đặt tay lên quyển sổ cũ, không đẩy về phía trước. “Vật chứng có thể giao, nhưng phải lập biên tại chỗ. Người bệnh còn trong lều, dân còn chưa nhận lại cháo, nếu quan gia muốn mang đi, xin đọc rõ lấy những gì, từ tay ai, trước mặt ai.” Tên nha sai nhìn ta, ánh mắt như đã được dặn trước rằng người trẻ tuổi này rất phiền. Hắn cười nhạt: “Lục thiếu chủ vừa tự tiện mở kho, giờ còn dạy nha môn làm việc?” Ta đáp: “Không dám. Ta chỉ sợ sáng mai Thẩm đại nhân hỏi vì sao chứng cứ trong tay nha môn thiếu một trang, các vị lại nói là tại mưa đêm nay quá lớn.” Lý trưởng Hạ Hà bỗng chống gậy bước lên: “Lão làm chứng. Không lập biên, không ai được mang.” Sau ông, mấy người dân vừa thoát cơn đau cũng lặng lẽ đứng dậy. Họ vẫn sợ, nhưng lần này nỗi sợ không hoàn toàn đứng về phía quan sai.
Tên nha sai nhìn quanh, sắc mặt nặng xuống. Hắn không cưỡng đoạt sổ nữa, mà đổi sang một tờ lệnh khác. “Lục Thừa Viễn.” Ba chữ ấy khiến cả lều im hẳn. Lục Thừa Viễn ngẩng đầu. Người kia đọc tiếp: “Ngươi bị nghi cấu kết người ngoài, dùng vật cấm trong kho quan đầu độc dân chúng, làm loạn cứu tế. Thẩm giám vận lệnh tạm bắt quy án, thẩm vấn trong đêm.” Câu này nghe như bắt kẻ có tội, nhưng lọt vào tai ta lại giống tiếng khóa sập xuống trên một cái rương đầy sổ sách. Thẩm Kính không đến để giúp ta bắt Nhị thúc. Hắn đến để đưa người biết chuyện rời khỏi mắt chúng ta.
Thanh Hành bước lên nửa bước, cổ họng bật ra một tiếng rất thấp: “Cha…” Lục Thừa Viễn không nhìn hắn. Ông ta nhìn ta. Trong khoảnh khắc ấy, sự nho nhã, bình ổn, đại cục trên mặt ông ta rơi xuống như lớp bùn bị mưa xối sạch, để lộ một thứ vừa hận vừa mệt. Khi nha sai khóa tay ông ta bằng dây thừng ướt, ông ta bỗng nghiêng người qua bên ta, giọng nhỏ đến mức chỉ ta nghe được: “Ngươi tưởng tìm được quyển sổ là tìm được mẹ ngươi sao? Sổ lương năm xưa không chỉ có một quyển.” Ta chưa kịp hỏi lại, nha sai đã kéo ông ta đi vào màn mưa. Đèn trong lều rung mạnh một cái. Trên bàn, dòng chữ “Lục Thừa Viễn, phụ kiểm tạm quyền” vẫn chưa khô mực, còn ngoài sân, Nhị thúc của ta đã bị quan phủ mang đi trước khi đêm kịp sáng.
