Bỏ qua nội dung

Bàn Tính Dưới Hoa Đăng

Chương 67: Độc Trong Nồi Cháo

Câu nói của Vân Chi vừa rơi xuống, tiếng mưa quanh lều cháo bỗng như biến thành tiếng đá nhỏ đập lên mái vải dầu. Những người đứng gần nồi số ba đồng loạt lùi lại, nhưng phía sau không biết chuyện gì, vẫn chen lên vì sợ phần cháo của mình bị cắt mất. Một cái đẩy nhỏ trong đêm đói rét có thể biến thành một trận giẫm đạp. Ta bước tới trước nồi cháo, không nhìn bát rơi dưới đất trước, mà nhìn tay người đang cầm bát. Run. Sợ. Giận. Và chỉ cần một tiếng hô đúng chỗ, tất cả sẽ biến thành dao chĩa về phía Lục gia.

Vân Chi giữ cổ tay cô bé kia, hai ngón tay đặt dưới mạch, giọng khàn nhưng không vỡ: “Không ai uống thêm một ngụm nào. Người đã ăn nồi số ba đứng sang bên trái, chưa ăn đứng sang bên phải. Đừng chạy, chạy sẽ càng đau bụng.” Nàng vừa nói vừa liếc ta. Ta hiểu ngay. Đêm nay không chỉ phải cứu người bị độc, mà còn phải cứu lòng dân khỏi bị người khác dắt đi như nước lũ gặp khe vỡ. Ta xoay người gọi Thanh Hành: “Đóng lối ra sân trước. Không khóa dân, chỉ chặn kẻ trà trộn bỏ chạy. Lý trưởng Hạ Hà, mời ông đứng ở giữa làm chứng. Tộc lão, ghi tên toàn bộ người từng chạm vào nồi số ba.”

Có người trong đám đông lập tức gào lên: “Lục gia phát cháo độc! Các ngươi muốn giết dân để khỏi phát lương nữa!” Tiếng ấy không phải của người đang đau. Nó vang, sắc, chọn đúng lúc ông lão ôm bụng rên một tiếng để đâm vào tai mọi người. Ta không tìm hắn bằng mắt. Tìm quá vội chỉ khiến hắn chui sâu hơn. Ta chỉ nâng giọng: “Ai nói Lục gia muốn giết dân, bước ra đây ký tên vào lời ấy. Ta để lý trưởng, tộc lão và mọi người cùng nghe. Nhưng trước khi ký, ngươi giúp Tạ cô nương bế người trúng độc sang lều ấm đã. Mạng người trước, mồm miệng sau.”

Đám đông khựng một nhịp. Kẻ vừa gào không bước ra. Người thật sự ôm con, dìu cha, cõng vợ lại tự động nhường một lối nhỏ cho Vân Chi. Nàng không hề cảm kích ta, cũng không có thời gian cảm kích. Nàng đưa cô bé cho Tạ Hành Chu, cúi xuống ngửi bát cháo còn sót, rồi dùng chiếc đũa tre chạm rất nhẹ vào váng cháo. Trên mặt cháo loãng có vài điểm dầu mỏng khác thường, không tan vào nước, mùi gừng bị một vị hăng cay rất lạ đè xuống. Nàng nhíu mày: “Không phải cơm thiu, cũng không phải nước bẩn. Người đau bụng, nôn khan, môi tái nhưng chưa mê man. Lượng thuốc không nặng, mục tiêu là làm loạn, không phải lập tức giết người.”

Tạ Hành Chu đã bế cô bé vào lều, nghe vậy liền quay đầu: “Vân Chi, dùng phương giải trước, đừng để họ nôn kiệt sức.” Vân Chi đáp rất nhanh: “Con biết. Cha xem mạch ông lão. A Mộc, lấy than ấm, nước sôi nguội, thuốc trong hòm thứ hai, ngăn vải xanh. Xuân Nương, không cho ai tự ý uống nước sống. Người ăn nồi số ba mỗi người một bát nước ấm nhỏ, chờ con phân loại.” Nàng sai người như đánh cờ, từng quân đặt xuống đều có chỗ. Nếu là ngày thường, ta có lẽ sẽ trêu nàng rằng Tạ gia y quán nuôi ra một tiểu quản sự còn hung hơn cả ta. Nhưng giờ nhìn vai nàng run vì lạnh, câu đùa ấy mắc lại trong cổ, biến thành một mùi đắng.

Lục Thừa Viễn cũng đã tới, áo choàng dính mưa nhưng giọng vẫn giữ được vẻ trầm ổn của người lớn biết lo đại cục: “Hoài Tranh, đã có độc thì còn giữ nồi làm gì? Đổ đi, tránh dân nhìn mà càng sợ. Trước mắt cứu người quan trọng.” Ông ta nói không sai hoàn toàn. Chính vì không sai hoàn toàn nên càng nguy hiểm. Ta nhìn nồi cháo số ba đang bốc hơi trắng đục. “Cứu người quan trọng, giữ chứng cũng quan trọng. Nồi này đậy lại, niêm trước mặt lý trưởng. Cháo đã múc ra, bát rơi dưới đất, muôi gỗ, hũ muối gừng, nước bên cạnh bếp, tất cả giữ nguyên vị trí. Ai động vào, ghi tên.”

Một tộc lão run giọng: “Nhưng dân đang nhìn…” Ta đáp: “Chính vì dân đang nhìn mới phải giữ. Nếu cháo có độc mà ta lập tức đổ đi, sáng mai cả Thanh Châu sẽ nói Lục gia giết người rồi hủy chứng. Nếu giữ lại trước mặt mọi người, ít nhất ai muốn vu cũng phải bước qua mắt dân.” Lý trưởng Hạ Hà chống gậy tiến lên, khuôn mặt già nua ướt nước mưa. Ông nhìn bát cháo trên đất, rồi nhìn ta: “Lão làm chứng. Không ai được đổ.” Câu ấy không lớn, nhưng một lý trưởng vừa mất nửa thôn vì lũ nói ra, nặng hơn mấy chục câu gia quy.

Vân Chi quay lại rất đúng lúc. “Người ăn nhiều nhất là ông lão và cô bé, đều còn tỉnh. Những người khác mới uống một hai ngụm, đau bụng nhẹ. Không giống độc mạnh.” Nàng cầm hũ muối gừng lên, mở nắp ngửi, rồi đưa cho Tạ Hành Chu. “Muối gừng ở đáy vẫn bình thường, trên miệng hũ có mùi lạ. Có người không trộn cả hũ, chỉ rắc lên phần vừa múc hoặc ném bột trực tiếp vào nồi sau khi cháo sôi.” Ta hỏi: “Lúc nàng rời nồi số ba, ai ở đây?” Nàng lập tức chỉ thẻ gỗ treo trên cột: “Người nấu là Lưu Tam, người múc là Nghiêm Phúc, nước từ giếng sau từ đường, gạo bao Tây kho số mười bảy. Muối gừng do Xuân Nương giữ. Nhưng lúc bé trai sốt cao, mọi người dồn sang lều sau, nồi này có một khoảng trống không ai nhìn sát.”

Cái khoảng trống ấy chính là khe hở. Ta bảo quản sự đọc lớn thẻ gỗ, từng cái tên được ghi lại trước mặt dân. Lưu Tam quỳ xuống kêu oan, nói mình từ lúc nhóm bếp đến giờ chưa rời nồi. Nghiêm Phúc mặt trắng bệch, hai tay giơ lên cho mọi người xem: “Tiểu nhân chỉ múc cháo, muôi cũng là Tạ cô nương đưa. Tiểu nhân có mẹ già đang xếp hàng phía sau, sao dám bỏ độc?” Xuân Nương thì khóc, nói hũ muối gừng đặt cạnh cột, nàng chỉ quay đi lấy chăn khô một lúc. Mỗi người đều có lý do nghe được. Mỗi người cũng đều có một khe hở đủ để người khác nhét tội vào.

Tiếng gào khi nãy lại nổi lên ở mé ngoài đám đông: “Còn hỏi gì nữa! Cháo từ Lục gia nấu, độc cũng từ Lục gia ra! Đập nồi đi!” Lần này vài người thật sự bị kích động. Một thanh niên áo rách nhặt khúc củi cháy dở lên, mắt đỏ vì đói và sợ. Thanh Hành định quát, ta đưa tay chặn hắn. Quát người đói không khiến họ tỉnh, chỉ khiến họ nhớ mình yếu thế. Ta bước xuống bùn, đứng cách thanh niên kia ba bước. “Ngươi đập nồi, người hạ độc sẽ cảm tạ ngươi nhất. Vì ngươi giúp hắn hủy thứ duy nhất có thể chứng minh độc đến từ đâu.” Thanh niên cứng người. Ta nói tiếp: “Ngươi muốn đánh ta, chờ người trúng độc qua cơn nguy rồi đánh. Bây giờ dùng sức đó giữ hàng cho trẻ nhỏ.”

Không biết câu nào chạm đúng chỗ, khúc củi trong tay hắn rơi xuống bùn. Một bà lão phía sau kéo tay áo hắn, khóc mắng: “Con còn muốn cháu con có thuốc thì đừng làm loạn.” Đám đông lại lắng xuống, nhưng không phải vì họ tin ta hoàn toàn. Họ chỉ tạm thời tìm được việc để làm: dìu người ăn nồi số ba sang bên trái, nhường nước ấm, giữ trẻ khỏi chen vào lều bệnh. Lòng dân trong lúc nguy cấp rất giống sổ mục bị ngấm nước, không thể giở mạnh, giở mạnh là rách. Phải đè nhẹ từng góc, hong từng trang, mới mong đọc được chữ bên trong.

Vân Chi ngồi xổm bên nồi số ba, không chạm tay trần vào bất cứ thứ gì. Nàng dùng vải sạch bọc đầu muôi, gạt một chút cặn ở thành nồi vào chén sành. Dưới ánh đèn dầu, lớp cặn ấy không trắng như bột gạo, mà hơi ngả xám, lẫn mấy hạt nhỏ như cát nghiền. Nàng đưa đến gần mũi rồi lập tức tránh ra. “Mùi này không thuộc hòm thuốc Tạ gia. Cũng không phải thuốc cứu dịch ta mang tới.” Tạ Hành Chu nhìn một thoáng, sắc mặt trầm xuống: “Giống bột phòng mọt trong kho lương cũ, nhưng thứ ấy không được để gần bếp ăn.”

Kho lương cũ. Bốn chữ ấy rơi xuống, Lục Thừa Viễn khẽ động mí mắt. Rất nhỏ, nhỏ đến mức nếu ta không nhìn ông ta từ đầu, có lẽ đã bỏ qua. Ta chưa vạch ra. Một con cá lớn không bị bắt bằng tiếng reo đầu tiên. Ta chỉ hỏi quản sự: “Kho Tây của Lục gia có dùng bột phòng mọt loại này không?” Quản sự già lắc đầu ngay: “Không, thiếu chủ đã đổi sang hun lá khô và kê cao giá từ năm ngoái. Bột cũ niêm lại, không đặt trong kho phát lương.” Vân Chi nhìn ta, ánh mắt hiểu ra trước lời nói. Nếu không từ kho Tây, vậy hoặc có người giữ bột cũ từ trước, hoặc thứ này được mang từ nơi khác đến.

Đúng lúc ấy, A Mộc từ chân bàn phát cháo kêu lên: “Tạ cô nương, chỗ này có giấy bọc!” Cậu bé không dám nhặt, chỉ quỳ xuống chỉ vào khe giữa chân bàn và đống củi ướt. Ta bảo mọi người lui nửa bước, tự dùng kẹp tre gắp mảnh giấy lên. Giấy đã thấm cháo và nước mưa, nhưng mép gấp còn dính một vệt sáp đỏ rất mỏng. Trên sáp có nửa dấu triện bị nhòe. Không phải dấu Lục gia. Cũng không phải dấu Tạ y quán. Ta đặt mảnh giấy dưới đèn, thấy bên trong còn sót chút bột xám giống thứ Vân Chi vừa gạt ở thành nồi.

Lục Thừa Viễn lập tức nói: “Một mảnh giấy rách dưới đất, sao biết không phải ai đó nhặt ngoài đường ném vào? Đêm lũ hỗn loạn, chớ vì muốn thoát tội mà kéo bừa kho quan vào.” Ông ta nói hai chữ kho quan trước cả khi ta nói. Ta ngước mắt nhìn ông ta. Lần này, không chỉ ta nghe thấy. Lý trưởng Hạ Hà cũng nghe thấy, tộc lão cũng nghe thấy, cả Thanh Hành đang đứng chặn lối cũng nghe thấy. Sắc mặt Lục Thừa Viễn vẫn bình tĩnh, nhưng sự bình tĩnh ấy giống áo giấy gặp mưa, nhìn còn nguyên hình, bên trong đã bắt đầu nhũn ra.

Ta không đáp ông ta ngay. Ta trao mảnh giấy cho lý trưởng nhìn trước, rồi mới nói với quản sự: “Ghi: giờ Hợi bốn khắc, tại chân bàn nồi số ba phát hiện giấy bọc bột xám, mép có sáp đỏ, nghi là vật chứa thuốc. Người chứng kiến: lý trưởng Hạ Hà, tộc lão Lục Trọng, Tạ Hành Chu, Tạ Vân Chi, Lục Thanh Hành.” Sau đó ta quay sang Vân Chi: “Người trúng độc thế nào?” Nàng lau mồ hôi lạnh trên trán, đáp nhỏ: “Qua được cơn đầu, nhưng đêm nay phải canh. Nếu còn ai ăn nhiều hơn mà giấu không nói, sẽ nguy.” Ta liền bảo dân chúng: “Ai đã ăn nồi số ba mà chưa đứng ra, không phạt, còn được thuốc trước. Giấu mới là tự hại mình.”

Một lát sau, thêm ba người bước ra. Không ai chết. Nhưng từ ánh mắt họ nhìn nồi cháo, ta biết nỗi sợ đã bị gieo xuống rồi. Người hạ độc không cần giết nhiều người, hắn chỉ cần biến bát cháo nóng thành thứ khiến dân run tay. Vân Chi đứng bên cạnh ta, giọng đã khàn đến gần như không còn tiếng: “Hoài Tranh, nồi một và hai phải nấu lại từ đầu, đổi toàn bộ phụ liệu, người giữ thẻ không được rời mắt. Nếu dừng phát cháo, họ sẽ đói. Nếu phát tiếp không rõ ràng, họ sẽ sợ.” Ta gật đầu. Đó là con đường khó nhất, cũng là con đường duy nhất còn có thể đi.

Mưa vẫn chưa ngớt. Ta nhìn mảnh giấy bọc dưới ánh đèn dầu, nhìn nửa dấu sáp đỏ còn sót lại. Trên mép giấy, ngoài vệt triện nhòe, còn có hai chữ nhỏ bị nước làm phai gần hết. Ta phải nghiêng đèn thật sát mới nhận ra nét bút quen thuộc của kho vận quan phủ: “Đông khố”. Trong khoảnh khắc ấy, tiếng bàn tính trong tay áo ta như tự va vào nhau một tiếng lạnh ngắt. Độc trong nồi cháo không chỉ nhằm hại danh tiếng Lục gia. Nó đến từ một nơi đáng lẽ đã bị niêm phong bởi lệnh quan. Và nếu kho quan có độc, vậy những bao lương giả trong kho Đông e rằng chỉ là lớp bùn đầu tiên của trận lũ này.