Bỏ qua nội dung

Bàn Tính Dưới Hoa Đăng

Chương 69 - Chương 69: Nhị Thúc Khai Một Nửa

Chương 69: Nhị Thúc Khai Một Nửa

Màn mưa nuốt bóng Lục Thừa Viễn rất nhanh. Chỉ vừa rồi ông ta còn đứng trong lều cháo, dùng giọng trưởng bối để khuyên ta đừng chạm vào kho quan, vậy mà chớp mắt đã bị dây thừng ướt trói tay kéo qua sân bùn. Đám dân vừa làm chứng im lặng như bị ai bóp cổ. Không ai reo mừng, cũng không ai dám nói ông ta đáng đời. Trong một đêm người ta vừa nôn ra độc, vừa nhìn thấy sổ cũ đội mồ sống dậy, rồi lại thấy quan sai mang một vị trưởng bối Lục gia đi thẩm vấn. Sự thật khi đến quá nhanh thường không giống ánh sáng, mà giống một cánh cửa bị gió đập mạnh, làm mọi người chỉ muốn lùi lại tìm chỗ dựa.

Ta không đuổi theo ngay. Đuổi theo bằng chân lúc này chỉ khiến Thẩm Kính có cớ đóng cửa trước mặt ta. Ta đặt tay lên quyển sổ còn chưa khô mực, bảo quản sự già tiếp tục chép biên, từng dòng, từng người chứng kiến, từng món vật chứng còn giữ lại. Lý trưởng Hạ Hà gọi hai dân đinh đứng cạnh bàn, một người đọc, một người nghe, để khỏi ai sau này nói Lục gia tự viết tự nhận. Vân Chi ở phía lều bệnh nhìn sang. Mưa làm sắc mặt nàng càng trắng, nhưng nàng vẫn dựng thẳng lưng, như thể chỉ cần nàng ngồi đó, đám người trúng độc sẽ không bị bỏ rơi giữa trận đấu của người lớn. Đêm nay, thứ nàng giữ lại không phải bánh quế từng cứu ta trong từ đường, mà là lòng tin mỏng đến đáng thương của dân chúng.

Thanh Hành lao vào lều, áo tơi mở tung, mắt đỏ vì mưa hay vì tức giận thì chính hắn cũng không phân biệt nổi. Hắn hỏi: “Ngươi cứ để họ mang cha ta đi như thế?” Ta khép sổ lại, nhìn hắn: “Nếu ngươi muốn ông ấy chết nhanh hơn, bây giờ cứ rút đao cản nha sai.” Hắn nghẹn lại, tay siết cán đao phát run. Ta hạ giọng: “Thẩm Kính bắt Nhị thúc trước mặt dân không phải để cho chúng ta cứu người bằng sức. Ông ta muốn chúng ta loạn. Ngươi loạn, hắn có thể nói Lục gia chống lệnh. Ta loạn, hắn có thể thu hết sổ. Dân loạn, lều cháo này sẽ thành bằng chứng Lục gia gây họa.” Thanh Hành nhìn ta như muốn đánh, nhưng cuối cùng chỉ bật ra một tiếng cười khàn: “Vậy ngươi muốn ta làm gì?” Ta đáp: “Làm con trai đủ tỉnh để giữ cha mình còn sống qua đêm nay.”

Ta chia người rất nhanh. Quản sự già giữ sổ với lý trưởng, Tạ Hành Chu kiểm lại toàn bộ thuốc và người bệnh, Vân Chi phụ trách ghi chứng trạng trúng độc, không để quan phủ sau này đổi thành dịch bệnh. A Mộc đem hai người thương đội theo nha sai từ xa, không cản, không gọi, chỉ ghi họ đi đường nào, vào cửa nào, có ai gặp giữa đường. Ta dẫn Thanh Hành đi sau cùng. Trước khi ra khỏi lều, Vân Chi kéo tay áo ta, nhét vào tay ta một túi vải nhỏ: “Thuốc tỉnh thần. Nếu phải nghe lời xấu, ngậm một viên, đừng để người ta chọc giận đến hỏng đầu.” Ta vốn đang rất nặng lòng, nghe câu ấy suýt bật cười. Ta cất túi thuốc, nói: “Ta giữ đầu. Nàng giữ lều.” Nàng gật đầu: “Được, ta giữ người sống.”

Nha sai không đưa Lục Thừa Viễn về nha môn chính, mà rẽ vào kho thuế cũ cạnh bến Nam. Chỗ ấy vốn dùng chứa lương ẩm chờ sấy, tường dày, cửa hẹp, đêm mưa lại càng giống một cái chum úp trên đất. A Mộc đứng dưới mái hiên đối diện, thấy ta đến liền lắc đầu rất khẽ: không vào được. Ta không bất ngờ. Thẩm Kính muốn thẩm vấn trong đêm, tất nhiên không định bày bàn trà chờ ta. Nhưng kho thuế cũ có cửa gió thấp sát vách sau, năm trước khi sửa tuyến vận lương ta từng nhìn qua bản đồ kho. Người không chui lọt, tiếng lại lọt ra. Ta bảo Thanh Hành tháo đao giao cho A Mộc. Hắn cau mặt. Ta nói: “Ngươi mang đao, họ nghe tiếng là biết người Lục gia đến cướp tù. Ngươi không mang đao, ngươi là con đến nghe cha có còn sống không.” Lần này hắn không cãi nữa.

Chúng ta men theo vách sau. Mưa từ mái ngói đổ xuống thành từng dây nước lạnh buốt. Bên trong có tiếng roi quất lên bàn, không phải lên người, nhưng đủ để người bị hỏi tự tưởng tượng da thịt mình sẽ ra sao nếu còn im lặng. Giọng Thẩm Kính truyền ra rất nhạt: “Lục nhị gia, một chữ ký phụ kiểm không đủ giết ngươi, nhưng đủ giết cả nhị phòng. Muốn giữ con trai, tốt nhất nói rõ, độc trong nồi cháo từ đâu ra.” Lục Thừa Viễn cười, tiếng cười khô như giấy cũ: “Độc trong nồi cháo không phải ta bỏ. Ta có muốn Hoài Tranh chết, cũng không ngu đến mức dùng dân lũ làm dao trước mặt cả Thanh Châu.” Thanh Hành bên cạnh ta cứng người. Câu ấy không trong sạch, chỉ là một kiểu tự biện rất thật. Nhị thúc không vô tội. Nhưng ông ta cũng không phải toàn bộ cái bẫy.

Thẩm Kính nói: “Vậy giấy bọc bột xám vì sao có dấu Đông khố?” Lục Thừa Viễn im một lúc lâu. Khi ông ta mở miệng lại, giọng đã mất lớp nho nhã thường ngày: “Vì năm xưa các người cũng dùng Đông khố để nuốt quân lương. Đường thủy qua Thanh Châu, lô Bính Thân thiếu ba trăm thạch, trưởng phòng muốn giữ danh, quan vận muốn giữ mũ, cuối cùng đẩy phụ thân ta ra nhận lỗi cân sai. Ông ấy treo cổ trong kho phụ trước khi trời sáng. Sổ viết là sợ tội tự tận, nhưng ta tận mắt thấy cổ tay ông ấy có vết dây trói.” Mưa trên mái bỗng lớn hơn, hoặc là tim ta đập nặng đến mức lấn cả tiếng mưa. Ta từng nghĩ tham vọng của Lục Thừa Viễn chỉ sinh ra từ lòng tham. Hóa ra nó còn được nuôi bằng một cái xác không được gọi đúng tên.

Nhưng hiểu không phải tha thứ. Ta nghe Lục Thừa Viễn nói tiếp: “Tô Diên khi ấy phát hiện sổ có hai bản. Một bản sạch để trình quan, một bản bẩn ghi hao hụt thật, dấu sáp thật, người nhận thật. Nàng muốn đưa bản bẩn ra khỏi Lục gia. Lục Sùng do dự, Tạ Hành Chu sợ liên lụy, còn ta…” Ông ta dừng lại rất khéo, như một người đi đến mép vực rồi tự cột dây vào eo. Thẩm Kính thay ông ta nói nốt: “Còn ngươi bán tin cho người của ta.” Trong kho im phăng phắc. Thanh Hành thở gấp một tiếng. Lục Thừa Viễn bật cười: “Đại nhân nói sai rồi. Ta chỉ nói cho người nên biết rằng Lục gia đang có một quyển sổ nguy hiểm. Người sai ai đi lấy, ai ép Tô Diên nhận tội, ai đổi sổ thành thư thông địch, chẳng lẽ cũng muốn tính vào đầu ta?”

Đây chính là một nửa. Ông ta nhận mình đẩy cánh cửa, nhưng không nhận mình cầm dao. Ông ta nói phụ thân bị hi sinh, nói Tô Diên phát hiện hai bản sổ, nói Lục Sùng do dự, nói Tạ Hành Chu sợ. Nhưng ông ta không nói quyển sổ bẩn hiện ở đâu, không nói ai còn sống từng thấy nó, càng không nói đêm mẹ ta bị vu tội ông ta đứng ở vị trí nào. Thẩm Kính dường như cũng nghe ra phần bị giấu. Giọng hắn lạnh xuống: “Quyển còn lại ở đâu?” Lục Thừa Viễn đáp: “Ta từng thấy một người mang nó đi khỏi bến Nam. Phu thuyền tên Mạnh Cửu, mặt trái có sẹo bỏng, năm đó phụ trách kéo thuyền lô Bính Thân. Hắn chưa chết, nhưng hắn có mở miệng hay không thì phải xem ai tìm được hắn trước.” Ta lập tức hiểu. Nhị thúc không trao chân tướng cho ta, cũng không trao cho Thẩm Kính. Ông ta ném một con bài sống ra ngoài, để cả hai bên cùng phải lao vào giữ hoặc giết.

Bên trong vang lên tiếng chén vỡ. Thẩm Kính chậm rãi nói: “Ngươi nghĩ kéo thêm một phu thuyền rách nát ra là giữ được mạng?” Lục Thừa Viễn đáp rất thấp: “Ta giữ mạng mình từ mười hai năm trước đến nay không phải vì sợ chết. Ta chỉ muốn người trưởng phòng cũng nếm thử cảm giác thứ mình bảo vệ hóa thành dây trói.” Thanh Hành lùi nửa bước, vai đụng vào vách ướt. Ta đưa tay giữ hắn lại. Có những câu làm con nghe thấy còn đau hơn roi. Nhưng đau cũng phải nghe hết, vì người ta không thể sửa một gia tộc bằng cách chỉ chọn nghe phần dễ chịu.

Ta kéo Thanh Hành rời khỏi vách sau trước khi nha sai tuần tới. Hắn đi như người mất hồn, đến dưới mái hiên mới khàn giọng hỏi: “Cha ta… là người hại mẹ ngươi sao?” Ta nhìn màn mưa trước mặt. Nếu ta trả lời có, ta sẽ nhẹ đi một chút, vì hận thù luôn dễ cầm hơn sự thật. Nhưng sự thật hiếm khi chịu đứng thành một hàng ngay ngắn như sổ kho. Ta nói: “Ông ấy hại. Nhưng chưa đủ. Người muốn mẹ ta chết không chỉ có ông ấy.” Thanh Hành nhắm mắt, nước mưa chảy qua mặt như một trận khóc không thành tiếng. Một lúc sau, hắn hỏi: “Mạnh Cửu ở đâu?” Ta đáp: “Phu thuyền cũ, mặt có sẹo bỏng, từng qua lô Bính Thân, bến Nam chắc chắn có người nhớ.”

Ta vừa dặn A Mộc đi tìm người quen trong hội kéo thuyền thì cửa hông kho thuế mở ra. Một gã sai dịch áo tơi đen bước rất nhanh ra ngoài, không đi về nha môn mà rẽ thẳng về phía bến. Hắn tưởng mưa lớn che được mọi thứ, nhưng người làm kho lâu năm hiểu một quy tắc: kẻ muốn giấu hàng luôn chọn lối ít nước nhất, vì dấu chân trong bùn sâu sẽ bán đứng hắn. Ta nhìn vệt chân hắn tránh qua đám bùn mới, rồi nhìn A Mộc. A Mộc không cần ta nói lần thứ hai, lập tức lẫn vào bóng mái hiên đối diện. Chưa đầy nửa khắc sau, hắn quay lại, trong tay nắm một mảnh giấy dầu bị nước làm nhòe, chữ chỉ còn đọc được vài nét: “Miếu Thủy Quân… trước canh ba… không để mở miệng.”

Gió đêm thổi tắt một ngọn đèn treo ngoài kho thuế. Ta siết mảnh giấy, cảm giác thuốc tỉnh thần Vân Chi đưa trong tay áo bỗng nặng như một viên đá. Nhị thúc đã khai một nửa, và nửa còn lại đang chạy về phía một người có thể không sống nổi đến sáng. Ta quay sang Thanh Hành. Lần này, hắn không hỏi ta muốn làm gì nữa. Hắn chỉ nhặt lại thanh đao từ tay A Mộc, giọng khàn nhưng tỉnh: “Đi bến Nam.” Ta gật đầu. Sau lưng chúng ta, kho thuế cũ vẫn đóng cửa im lìm, còn trước mặt, mưa đêm kéo dài đến miếu Thủy Quân như một đường mực đen chưa kịp khô trên trang sổ lương năm xưa.