Bỏ qua nội dung

Bàn Tính Dưới Hoa Đăng

Chương 56: Rương Gỗ Dưới Nền Nhà

Chương 56: Rương Gỗ Dưới Nền Nhà

Khóa mới nằm trên cửa kho mật như một câu cười nhạt. Người đổi nó không cần phá cửa, không cần dọn sạch dấu vết, chỉ cần để chìa cũ của gia chủ kẹt trong ổ khóa trước mặt tộc lão là đủ. Một cánh cửa không mở được có khi còn đáng sợ hơn một cánh cửa trống rỗng, bởi nó cho mọi người một lý do để sợ thứ ở bên trong và cũng cho kẻ giấu chứng cứ thêm thời gian để chuyển tay. Ta nhìn lớp sáp đỏ còn mềm trên mép khóa, ngón tay đặt lên hạt bàn tính trong tay áo, bỗng thấy lòng mình bình tĩnh đến lạ. Có lẽ khi người ta đau quá lâu, cơn giận cũng học được cách xếp hàng chờ tới lượt.

Lục Sùng trầm giọng: “Phong cửa, gọi quản sự đông viện tới.” Hai tộc lão lập tức sai người đi, nhưng Lục Thừa Viễn đã bước lên một bước, giọng vẫn ôn hòa như đang khuyên một chuyện hợp tình hợp lý: “Phụ thân, nếu khóa đã bị đổi, việc đầu tiên nên làm là tra người giữ dấu đông viện. Phá khóa trước mặt mọi người e là hỏng niêm, sau này có người nói chứng cứ bị động tay động chân, chúng ta càng khó giải thích.” Lời ấy nghe rất đúng. Đúng đến mức nếu ta không từng thấy quá nhiều sổ sách bị sửa bằng những lý do cũng đúng như vậy, suýt nữa đã muốn gật đầu thay ông ta.

Ta cúi người nhìn vệt sáp trên khóa. Màu đỏ mới, mép ấn sắc, nhưng dưới ổ khóa lại không có giọt sáp rơi. Người niêm khóa nếu làm vội thường không sạch đến thế. Ta lại nhìn bản lề, bụi trong kẽ vẫn nguyên, chỉ có mặt khóa được lau qua. “Nhị thúc nói không sai,” ta nói, “khóa không nên phá ngay. Nhưng nếu mục đích của người đổi khóa là ngăn chúng ta vào kho, hắn sẽ lau bản lề, dọn vết chân, giấu mùi trong khe cửa. Hiện giờ hắn chỉ thay khóa và để sáp mới trước mắt chúng ta. Đây giống một tấm biển hơn là một cánh cửa.” Một vị tộc lão cau mày: “Biển gì?” Ta đáp: “Biển báo cho chúng ta nhìn vào sai chỗ.”

Lục Thừa Viễn khẽ cười: “Hoài Tranh, con lại suy đoán quá xa rồi.” Ta không nhìn ông ta, chỉ quay sang Mạnh Tứ: “Đem một ít sáp vụn trên mép khóa, cả bụi ở khe cửa, mời Tạ cô nương tới. Nói rõ là chuyện liên quan hương thuốc, không phải chuyện riêng.” Ba chữ chuyện riêng vừa ra khỏi miệng, cổ họng ta nghẹn một chút. Mạnh Tứ liếc ta như muốn hỏi có cần nói thêm câu gì không, nhưng cuối cùng chỉ cúi đầu nhận lệnh. Người thông minh đôi khi tốt nhất ở chỗ biết im lặng đúng lúc.

Trong lúc chờ, Lục Sùng sai người vây kín từ đường, không cho bất cứ quản sự nào rời phủ. Thanh Hành vẫn quỳ bên trong, nhưng khi nghe tin khóa bị đổi, hắn chống tay đứng dậy rồi bị phụ thân quát ngồi xuống. Hắn không cãi, chỉ nhìn về phía cửa tây, sắc mặt xám đi. Ta biết hắn đang sợ. Không phải sợ mình chịu phạt, mà sợ mình vừa gom hết can đảm nói ra một sự thật, cuối cùng lại phát hiện sự thật ấy đã bị người khác đào rỗng. Có những lần thua khiến người ta mất mặt, có những lần thua khiến người ta không còn tin mắt mình nữa.

Tạ Vân Chi đến nhanh hơn ta tưởng. Nàng khoác áo choàng màu xanh nhạt, bên tóc còn dính một hạt mưa nhỏ, tay áo ôm một hộp thuốc bằng gỗ cũ. Khi bước qua ngưỡng từ đường, nàng không nhìn ta ngay mà nhìn khóa, nhìn sáp, rồi nhìn đám người Lục gia đứng quanh như một vòng tường lạnh. Nàng hành lễ với Lục Sùng, giọng bình tĩnh: “Vãn bối nghe nói trong phủ có hương thuốc lạ. Nếu chỉ là phân biệt mùi, vãn bối có thể giúp. Còn chuyện nhà họ Lục, vãn bối không xen vào.” Câu cuối nhẹ như sợi chỉ, nhưng buộc thẳng vào cổ tay ta. Ta muốn nói nàng không phải người ngoài, lại nhớ chính mình từng dùng im lặng đẩy nàng ra ngoài, nên chỉ có thể cúi mắt: “Làm phiền nàng.”

Nàng mở hộp, lấy một mảnh giấy trắng hứng chút sáp vụn, lại dùng kim bạc gẩy lớp bụi ở khe cửa. Động tác của nàng rất chậm, không phải vì do dự, mà vì nàng không muốn ai có cớ nói nàng làm hỏng chứng cứ. Dưới ánh đèn, gương mặt nàng vẫn sáng như trước, chỉ là nụ cười thường ngày đã được cất đi đâu đó. Một lát sau, nàng đưa giấy lên gần mũi, cau mày rất khẽ. “Trong sáp có bột thanh đằng và nhựa tùng khô. Thứ này Tạ gia dùng để chống ẩm cho hòm gỗ đựng bệnh án cũ, nhưng mùi ở khe cửa không giống mới bôi lên khóa.” Nàng ngồi xuống, áp tay gần nền đá, lại nghiêng đầu ngửi khoảng tối sát chân tường. “Mùi đi từ dưới lên.”

Mấy tộc lão nhìn nhau. Đại lão gia lạnh giọng: “Dưới nền từ đường làm sao có thuốc?” Vân Chi không đáp ngay. Nàng lấy từ hộp ra một túi vải nhỏ, rắc một lớp bột trắng mỏng dọc theo khe gạch trước cửa kho. Gió lùa qua khe cửa, bột ở gần ổ khóa chỉ rung nhẹ, nhưng chỗ sát chân tường phía nam lại bị hút thành một đường cong rất mảnh. Nàng ngẩng đầu nhìn ta: “Dưới đó có khoảng rỗng. Nếu bên trong từng để hòm chống ẩm, hương thuốc sẽ thấm vào gỗ và đất. Khóa mới có thể là để kéo mắt người ta lên cửa, nhưng mùi thì không biết nói dối.”

Ta suýt bật cười, không phải vì vui, mà vì câu ấy quá giống cách ta từng nói về sổ sách. Mùi thuốc không biết nói dối. Sổ sách cũng không biết nói dối. Chỉ có người cầm bút và người cầm chìa mới biết nói dối. Ta đứng dậy, hỏi Thanh Hành: “Năm kia ngươi thấy rương được đưa vào kho từ hướng nào?” Hắn bị phụ thân giữ ở cửa, nhưng vẫn đáp ngay: “Từ hành lang nam. Khi ấy bình phong chưa đặt lại, ta thấy hai gia đinh khiêng rương đi sát chân tường, không đi qua cửa chính kho.” Ta nhìn Lục Sùng. Ông im lặng rất lâu rồi nói: “Nền phía nam từng là hầm tránh ẩm của từ đường cũ. Sau khi sửa mái năm kia, đã lấp miệng hầm.”

Lời ấy vừa rơi xuống, sắc mặt Lục Thừa Viễn cuối cùng đổi. Không nhiều, chỉ như vết nứt rất mảnh trên chén sứ trắng, nhưng đủ để ta nhìn thấy. Ta nói với tộc lão: “Không phá khóa, không động niêm. Chỉ mở nền phía nam trước mặt gia chủ và hai vị tộc lão. Nếu bên dưới trống, ta nhận tội tự ý kinh động từ đường. Nếu có vật, vật ấy vốn không nằm trong kho đang niêm, cũng không thể nói là ta phá chứng cứ trong kho.” Một vị tộc lão do dự nhìn Lục Sùng. Lục Sùng chống gậy xuống nền: “Mở.”

Gia đinh mang xà beng nhỏ tới. Viên gạch đầu tiên bị nạy lên phát ra tiếng khô khốc, bụi cũ bay vào ánh đèn như tro của một năm nào đó chưa chịu tan. Vân Chi lùi nửa bước, ta theo bản năng đưa tay chắn trước người nàng, rồi lập tức thu lại. Nàng nhìn bàn tay ta một thoáng, không nói gì. Chỉ một thoáng ấy thôi đã đủ khiến ngực ta đau hơn cả tiếng gạch nứt dưới chân. Ta đã từng nghĩ mình giấu nàng là bảo vệ nàng. Đến hôm nay mới hiểu, người bị bỏ lại bên ngoài vẫn nghe thấy tiếng cửa đóng, chỉ là nàng không khóc cho ta thấy.

Viên gạch thứ ba vừa nhấc lên, mùi gỗ ẩm và thuốc chống mốc lập tức bốc ra nặng hơn. Bên dưới quả nhiên có một hốc hẹp, được che bằng tấm ván đen đã mục mép. Gia đinh kéo ván ra, để lộ một rương gỗ nhỏ bọc vải dầu, trên nắp có dấu cháy sém chạy thành một vệt cong. Dây buộc màu xanh xám đã bạc gần như trắng, nhưng khi ánh đèn chạm vào, ta vẫn nhận ra màu ấy giống hệt mảnh lụa trong hộp tre Vân Chi từng giao cho ta. Thanh Hành bật ra một hơi thở rất ngắn. Đại phu nhân ở phía sau bỗng lảo đảo, lần này không nha hoàn nào kịp đỡ.

Không ai trong từ đường nói gì. Một cái rương nhỏ, nằm dưới nền nhà, lại khiến cả Lục gia yên lặng như đứng trước quan tài của chính mình. Lục Sùng bước tới, tay run đến mức đầu gậy gõ hai lần lên gạch. Ông không mở rương ngay mà nhìn ta. Trong ánh mắt ấy có mệt mỏi, hối hận, cũng có một chút van xin rất muộn. Ta bỗng hiểu ông sợ gì. Không phải sợ ta không phải con cháu Lục gia, mà sợ ta đúng là con cháu Lục gia theo cách chính danh nhất, còn ông đã để đứa cháu ấy sống dưới một cái tên bị cắt nát suốt nhiều năm.

Vân Chi ngồi xuống cạnh rương, kiểm tra lớp niêm cũ ở góc nắp. “Niêm này đã bị mở một lần rồi dán lại,” nàng nói, “nhưng không phải gần đây. Mép nhựa khô đã ăn vào thớ gỗ, nếu cạy mạnh sẽ làm rách giấy bên trong.” Nàng lấy trong hộp ra một con dao mỏng hơ qua lửa đèn, cẩn thận tách từng chút nhựa cũ. Ta đứng bên cạnh, ngửi thấy mùi thuốc quen từ tay áo nàng, bỗng nhớ đến những ngày nàng đem bánh quế vào từ đường, cũng cẩn thận như vậy gỡ giấy dầu vì sợ vụn bánh rơi xuống áo ta. Khi ấy ta có rất ít thứ để mất. Bây giờ thứ gì cũng đang nằm trên một lưỡi dao mỏng trong tay nàng.

Nắp rương cuối cùng bật lên một khe nhỏ. Bên trong không có vàng bạc, không có lệnh bài sáng chói, chỉ có mấy lớp giấy dầu bọc quanh một tập giấy đã ngả vàng. Lục Sùng nhắm mắt. Lục Thừa Viễn lùi nửa bước. Ta đưa tay lấy lớp giấy trên cùng, đầu ngón tay lạnh như chạm vào nước mưa. Dòng chữ đầu tiên hiện ra dưới ánh đèn: hôn thư lập giữa Lục gia Lục Chiêu và Tô thị Tô Diên, nguyên phối chính thất, có dấu đỏ của gia chủ Lục Sùng và hai người chứng hôn. Dưới hôn thư còn kẹp một tờ sinh tịch nhỏ hơn, mép cháy mất một góc, nhưng ba chữ Lục Hoài Tranh vẫn còn nguyên vẹn. Ta chưa kịp đọc tên người chứng thứ hai thì Vân Chi bỗng khựng tay, ánh mắt dừng trên một nét ký quen thuộc ở cuối trang. Nàng rất khẽ gọi: “Cha ta…”