Chương 50: Đêm Mẹ Ta Chết
Ủng hộ Lăng Kính Truyện
Mở ưu đãi một lần để tiếp tục đọc. Thông báo này chỉ hiện lại sau 4 giờ.
Mở ưu đãi và tiếp tục đọcChương 50: Đêm Mẹ Ta Chết
Mười hai năm trước, cũng dưới mưa như đêm nay, Tô Diên phu nhân từng cầm chiếc bàn tính này đến cửa tây, hỏi ta một xe quân lương thiếu ba bao thì trên sổ phải giấu ở đâu.
Câu ấy rơi xuống từ đường, nhẹ như một hạt mưa lọt qua mái ngói, nhưng khi chạm đất lại làm tất cả im bặt. Ta nhìn chiếc bàn tính trên án gỗ. Ban nãy nó còn là vật ta dùng để vạch mặt một thẻ bài giả, một túi tiền đồng, một quản gia run rẩy. Giờ nó bỗng biến thành một cánh cửa cũ, sau cánh cửa ấy là tên mẹ ta, là một đêm mưa, là thứ tội danh đã đè lên lưng ta suốt nhiều năm. Hạt gỗ nằm yên, vậy mà ta có cảm giác chỉ cần chạm tay vào, nó sẽ lạnh như tay người chết.
Lục Thừa Viễn là người tỉnh lại trước. Hắn khẽ ho một tiếng, giọng vẫn giữ được vẻ đau lòng quen thuộc. “Một lão phu canh tuổi đã cao, nhận nhầm đồ cũ cũng không lạ. Phụ thân, chuyện người làm áo xanh còn chưa xử xong, không nên để một lời mê sảng kéo từ đường sang chuyện cũ.” Ta bỗng muốn cười, nhưng cổ họng khô đến mức không phát ra tiếng. Sổ sách đôi khi tử tế hơn người, ít nhất nó không biết vừa bị hỏi đến chỗ đau đã vội khoác áo đại cục lên người.
Tổ phụ không nhìn Lục Thừa Viễn. Ông nhìn lão phu canh, bàn tay đặt trên tay vịn ghế siết rất chặt. “Mạnh Tứ, ngươi biết mình đang nói gì không?” Lão phu được Thanh Hành đỡ ngồi xuống ghế nhỏ, vai còn run, nhưng mắt không né. “Lão nô biết. Năm đó lão nô còn là phu canh cửa tây, phụ trách ghi xe qua lúc đêm mưa. Tô phu nhân mặc áo choàng xám, không đi kiệu, chỉ có một tỳ nữ đi sau cầm đèn. Bà ấy không hỏi chuyện nhà, không hỏi ai hại ai. Bà ấy đặt bàn tính lên bàn canh, bảo lão nô đọc lại số bao quân lương đi qua cửa tây trong ba ngày trước.”
Ta nghe tiếng mưa ngoài hiên. Không biết mưa thật sự đã bắt đầu hay chỉ là ký ức của người khác đang tràn vào tai mình. Ta hỏi: “Bà ấy hỏi một xe thiếu ba bao?” Mạnh Tứ gật đầu. “Không chỉ một xe. Một xe thiếu ba bao là chỗ lộ ra đầu tiên. Trên giấy cửa tây ghi xe thứ sáu chở ba mươi bao, đến bến Dương Liễu đổi thuyền thì chỉ còn hai mươi bảy. Quản vận nói do mưa làm rách bao, chuột cắn, phải bỏ đi. Tô phu nhân nghe xong cười rất nhẹ, bảo chuột Thanh Châu thật có kỷ luật, bảy xe cắn xe nào cũng đúng ba bao.”
Một câu cười cũ, qua miệng lão phu canh, làm lòng ta đau đến mức gần như buồn cười theo. Ta chưa từng nghe mẹ ta nói chuyện. Những gì Lục gia để lại cho ta chỉ là hai chữ thông địch, một gian từ đường lạnh, và những ánh mắt như nhìn vết bẩn. Vậy mà trong lời kể của một người gác cửa, bà ấy lại hiện ra bằng cách tính số bao lương và châm biếm lũ chuột ăn rất ngay hàng thẳng lối. Hóa ra có những người dù đã chết nhiều năm, chỉ cần một câu nói đúng tính tình, cũng đủ khiến người sống nhận ra mình từng bị cướp mất bao nhiêu thứ.
Lục Sùng nhắm mắt một cái. Lần này ta thấy rõ, không phải ông giận vì lão phu canh nói bậy. Ông sợ lão nói đúng. Ta bước đến trước án, không chạm vào bàn tính. “Sau đó thì sao?” Mạnh Tứ nuốt khan. “Sau đó Tô phu nhân lấy một tờ giấy từ tay áo, trên đó có tên mấy kho phụ và ký hiệu vận lương. Bà ấy hỏi lão nô, nếu số thiếu không nằm ở cửa tây, cũng không nằm ở bến, vậy người ghi sổ sẽ giấu vào đâu. Lão nô chỉ là phu canh, không hiểu sổ lớn. Bà ấy tự gảy bàn tính một lúc rồi nói, ‘Nếu hao hụt được chia đều ở từng trạm, người nhìn một trạm sẽ thấy hợp lý, chỉ người nhìn cả đường mới thấy nó đang chảy máu.’”
Câu ấy như một cái gai đâm thẳng vào ký ức của ta. Những ngày đầu ở từ đường, ta từng lật những quyển sổ kho mục nát và nghĩ người xưa ghi chép hỗn loạn vì lười, vì ngu, vì quen dùng bùn che lên lỗ thủng. Bây giờ ta mới hiểu, có thể trong đám bùn ấy từng có một bàn tay cố gắng vạch đường nước chảy, rồi bị người ta chôn cùng bùn. Mẹ ta không phản bội Lục gia. Bà ấy đang truy một tuyến quân lương bị rút ruột, và chính vì truy nó, bà ấy chết.
Trong từ đường có người hít vào rất khẽ. Vân Chi đứng ngoài bậc cửa, sắc mặt trắng hơn ban nãy. Nàng không nói. Nàng chỉ ôm chặt hộp thuốc, các ngón tay bấu vào cạnh gỗ. Ta không nhìn nàng lâu, không phải vì trách, mà vì sợ nếu nhìn thêm, ta sẽ thấy trong mắt nàng nỗi sợ của một người vừa nhận ra cha mình có thể đứng ở chỗ tối nhất trong ký ức của người khác.
Lục Thừa Viễn lại lên tiếng, lần này không còn mềm như trước. “Dù Tô thị từng hỏi quân lương, cũng không chứng minh nàng trong sạch. Người thông địch càng cần biết đường vận lương.” Ta quay đầu nhìn hắn. “Nhị thúc, người thông địch sẽ hỏi phu canh cửa tây rằng trên sổ phải giấu hao hụt ở đâu sao? Nếu đã thông địch, bà ấy cần đường vận lương, không cần cách bắt kẻ rút lương.” Hắn lạnh mặt. “Đó là suy đoán của con.” “Phải,” ta nói, “cho nên ta mới nghe nhân chứng, không nghe nhị thúc thay người chết kết án lần nữa.”
Mạnh Tứ run tay lấy từ trong vạt áo ra một miếng gỗ nhỏ đã đen màu. Thanh Hành nhận lấy, đưa cho ta. Trên đó khắc những nét rất vụng: sáu, ba mươi, hai mươi bảy; bảy, ba mươi, hai mươi bảy. Không phải sổ chính, chỉ là thẻ nhớ của phu canh để cuối ca đối lại với thư lại. Những con số méo mó ấy không thể đưa thẳng lên công đường để định tội ai, nhưng đủ để chứng minh một điều: lời lão không phải bịa ra trong khoảnh khắc. Ta vuốt qua vết khắc đã mòn, bỗng hiểu vì sao mẹ ta phải hỏi một phu canh thấp cổ bé họng. Người ở thấp nhất thường không biết âm mưu, nhưng họ biết đêm ấy xe nào qua, bánh xe lún sâu hay nông, bao lương có ướt thật hay chỉ ướt trên miệng người ghi sổ.
“Đêm đó bà ấy có ra khỏi thành không?” ta hỏi. Từ đường lại im. Đây mới là câu quan trọng. Tội danh năm xưa của Tô Diên không chỉ là hỏi sổ, mà là lén gặp người ngoài thành, chuyển tin vận lương cho địch. Mạnh Tứ lắc đầu rất chậm. “Không. Ít nhất qua cửa tây, Tô phu nhân không hề ra ngoài. Lão nô nhớ rõ vì đêm ấy sau canh ba cửa tây đóng do nước dâng, chỉ có một xe thuốc xin vào thành, không có ai xin ra. Tô phu nhân đứng dưới mái canh đến lúc trống canh ba rưỡi, rồi có một người đến đón.”
Tim ta chìm xuống. Ta đã biết trước câu tiếp theo sẽ đau, nhưng biết trước không khiến nó nhẹ hơn. “Ai?” Mạnh Tứ nhìn về phía cửa từ đường. Ánh đèn ngoài hiên bị gió kéo nghiêng, chiếu lên khuôn mặt Vân Chi một vệt vàng nhạt. Lão phu canh khàn giọng: “Một đại phu họ Tạ. Khi ấy ông ấy còn trẻ, mang hòm thuốc, áo ướt gần hết. Tô phu nhân gọi ông ấy là Tạ đại phu. Ông ấy bảo đường về từ đường không còn sạch, trước hết phải đi y quán tránh một lát.”
Hộp thuốc trong tay Vân Chi va khẽ vào cột cửa. Âm thanh rất nhỏ, nhưng trong một đêm đầy những lời lớn lao, nó lại rõ đến kỳ lạ. Ta không quay đầu nhìn nàng. Ta nhìn tổ phụ. Lục Sùng cuối cùng cũng mở mắt. Trong mắt ông có mệt mỏi, có hối hận, và có một thứ ta ghét nhất lúc này: biết mà không nói. Ta hỏi: “Tổ phụ cũng biết Tạ Hành Chu có mặt đêm đó?” Ông không đáp ngay. Chỉ một khoảng im lặng ấy đã đủ. Có những lời thú nhận không cần tiếng nói, giống như trong sổ, một ô trống đúng chỗ còn đáng sợ hơn một con số sai.
Ta bỗng thấy từ đường rất lạnh. Nơi này từng giam ta, từng dùng bài vị tổ tiên ép một đứa trẻ nhận lấy tội của mẹ. Đêm nay cũng chính nơi này trả lại cho ta một nửa sự thật: mẹ ta không phải người chạy ra ngoài thành bán tin, bà ấy là người đi trong mưa để tìm lỗ thủng của quân lương. Nhưng nửa còn lại bị người sống nắm trong tay. Người giữ chìa khóa không nói. Người từng đón bà trong mưa cũng không nói. Và người chết thì không thể tự gõ bàn tính thêm một lần nữa.
Ngoài sân vang lên tiếng bước chân vội. Một gia đinh định ngăn lại, nhưng giọng Vân Chi run lên: “Cha?” Ta quay người. Tạ Hành Chu đứng dưới hiên từ đường, áo ngoài khoác vội, tóc còn rối vì chạy trong đêm. Ông nhìn Mạnh Tứ, nhìn chiếc bàn tính trên án, rồi nhìn ta. Sắc mặt ông trắng như tro thuốc nguội. Không ai kịp hỏi câu nào, ông đã bước qua ngưỡng cửa, quỳ xuống trước mặt ta. Đầu gối chạm nền gạch vang một tiếng nặng. “Hoài Tranh,” ông nói, giọng khàn đến gần như vỡ ra, “đêm mẫu thân con chết, ta đã ở đó.”
