Chương 31 - Chương 31: Lập Lại Thương Đội
Chương 31: Lập Lại Thương Đội
Chiếc thuyền treo đèn đỏ lặng lẽ rời khỏi mép sáng cuối cùng của Bến Nam. Nó đi không nhanh, nhưng chính vì không nhanh nên càng giống kẻ đã chắc phía sau không ai dám đuổi. Ta đứng trước cửa kho phụ, nghe tiếng mái chèo đều đều rơi xuống mặt nước, bàn tay đặt trên mép danh sách bốn chuyến dùng dấu tạm tuyến Nam. Đuổi theo ngay không khó. Khó là đuổi thế nào để không bị người ta biến thành công tử Lục gia cướp hàng giữa đêm. Trong sương dày trước rạng, một chiếc thuyền chỉ cần nghiêng mũi vào bãi cọc cũ là đủ khiến mọi chứng cứ trong kho phụ bị tiếng người ngoài bến lấp mất.
Ta quay sang Thanh Hành: “Không chặn. Gọi hai hộ vệ quen đường nước bám theo bờ nam. Chỉ nhìn, không động. Thuyền ghé bến nào, ai nhận hàng, ghi lại.” Thanh Hành cau mày: “Cứ để nó đi?” “Không phải để nó đi, là xem nó thuộc đường của ai.” Hắn nhìn ta mấy hơi rồi hừ một tiếng, xoay người gọi người. Vân Chi đứng cạnh Tần tiên sinh, nâng đèn cho ông buộc giấy, khẽ nói: “Người khác nhìn thuyền, ngươi nhìn đường. Công tử Lục gia càng ngày càng giống thầy bói xem mạch sông.” Ta vốn muốn giữ vẻ nghiêm túc, rốt cuộc vẫn suýt bật cười. Đêm qua quá lạnh, một câu đùa nhỏ cũng đủ khiến ngón tay người ta bớt cứng.
Trước giờ Mão, bản sao đầu tiên được lão bộc của tổ phụ đưa về Lục phủ. Ta không biết Lục Sùng nhìn thấy bốn chữ “Không rời Thanh Châu” sẽ giận hay im lặng. Nhưng một khi giấy vào tay ông ấy, nhị phòng muốn nói chuyện ở Bến Nam chỉ là mấy đứa trẻ làm loạn sẽ khó hơn. Người lớn trong nhà thích nói đại cục, vậy ta đưa đại cục lên bàn, để họ khỏi giấu nó dưới chén trà.
Trời vừa hửng xám, các quản sự cũ của thương đội bị gọi tới kho phụ. Có người tóc còn rối, có người đến nhanh đến mức giống như vốn đã đợi ở gần bến. Tào quản sự đứng bên bàn, mặt trắng bệch nhưng không quỳ nữa. Ta giữ hắn lại không phải vì tin hắn, mà vì người từng đi qua bùn biết nơi nào lún sâu. La quản sự, phụ trách tuyến thủy ngắn trong thành, vừa nhìn các hòm sổ bị niêm đã chắp tay nói: “Công tử, thương đội không thể một đêm đổi quy củ. Hàng chờ xuất, thuyền chờ tiền, thương hộ chờ khế. Nếu vì vài dòng sổ sai mà khóa tuyến, Lục gia mất chữ tín, ai chịu?”
“Vài dòng sổ sai?” Ta đẩy danh sách đến trước mặt hắn. “Ba tháng, một trăm bảy mươi hai chuyến. Hai mươi sáu chuyến dược liệu không qua kho kiểm thuốc. Mười một chuyến thiếu người ký nhận. Bốn chuyến dùng dấu tạm tuyến Nam. Một người giữ sổ chết ngoài bến. Một y quán bị niêm phong. Nếu đây vẫn là vài dòng, vậy thương đội Lục gia không phải mất chữ tín hôm nay, mà đã mất từ lâu.” Trong kho lặng xuống. Mắng còn có thể cúi đầu chịu, nhưng con số đặt trước mắt thì không biết thương lượng với ai.
La quản sự mím môi: “Lối cũ tuy thô nhưng tiện. Chia tuyến, kiểm hàng, niêm sổ, mỗi bước thêm một người ký, thuyền sẽ chậm. Chậm một ngày là mất bạc.” Ta kéo chiếc bàn tính cũ trên giá xuống, gạt vài hạt. Tiếng lách cách vang lên giữa mùi dầu đèn và bùn sông, tỉnh táo hơn mọi lời dọa dẫm. “Một chuyến chậm nửa canh, mất ba mươi văn công chờ. Một chuyến hàng giả lọt qua, mất một y quán, một mạng người và nửa mặt mũi Lục gia. Nếu La quản sự thấy ba mươi văn đắt hơn, vậy không cần đổi quy củ, chỉ cần đổi quản sự.” Thanh Hành ở sau lưng khẽ “ồ” một tiếng, nghe rất đáng đánh. Ta không quay lại, vì quay lại sẽ phá mất vẻ lạnh lùng vừa gom được.
Ta lấy giấy trắng chia thành ba cột: tuyến, hàng, người. Tuyến chia Bắc, Nam và Nội Thành; hàng chia dược liệu, lương thực, vải vóc, tạp hóa; người chia nhận hàng, cân hàng, áp hàng và người chứng ngoài kho. Từ hôm nay, mỗi chuyến ít nhất ba chữ ký hoặc dấu tay. Người không biết chữ ấn lên thẻ tre, thẻ tre xâu cùng thẻ hàng; đến bến nhận đối chiếu thẻ, số kiện, cân nặng và dấu niêm. Ta nói chậm để từng người trong kho nghe rõ: “Thương đội không đi theo miệng quản sự nữa. Đi theo tuyến, theo hàng, theo người. Tuyến sai tra tuyến, hàng sai tra người kiểm, người mất tích tra người chứng. Không để một cái tên như Chu quản quỹ nuốt hết tội, cũng không để một nét mực kéo ngang xóa sạch người duyệt.”
Vân Chi nhìn ba cột giấy, ánh mắt sáng lên. “Dược liệu không thể chỉ cân. Cam thảo khô và cam thảo ngâm đường có thể cân gần giống nhau. Phải ghi mùi, màu, độ khô và nguồn phơi. Tạ gia có sổ phơi thuốc, nhưng đem thẳng vào sổ Lục gia thì không tiện. Có thể lập phiếu kiểm dược riêng, không ghi bí phương, chỉ ghi đặc điểm nhận hàng. Nếu sau này bị tráo, nhìn phiếu biết tráo trước hay sau khi qua kho.” Mấy quản sự cũ nhìn nàng, vẻ mặt khó coi. Có lẽ trong mắt họ, một cô nương y quán nên đứng sau quầy thuốc, không nên đứng trước bàn thương đội nói quy trình. Nhưng người nhận ra kiện dược liệu giả danh Tạ gia là nàng; ở Bến Nam hôm nay, người có mắt thật thì có quyền nói thật.
La quản sự lập tức bắt được chỗ khó: “Tạ cô nương hiểu thuốc, nhưng vẫn là người ngoài. Để người ngoài ký hàng Lục gia, sau này các phòng sẽ nói công tử đem thương đội giao cho Tạ gia.” Vân Chi khựng lại. Ta cầm bút, dưới mục người chứng viết thêm bốn chữ: “người kiểm ngoài”. “Không ghi Tạ gia. Ghi chức, không ghi thân. Ai hiểu thuốc thì kiểm thuốc, ai hiểu thuyền thì kiểm khoang, ai biết cân thì cân. Người ngoài không nắm tiền, không điều thuyền, không quyết xuất hàng; chỉ ký thứ mình tận mắt kiểm. Như vậy không phải giao thương đội cho người ngoài, mà là không để người trong nhà tự bịt mắt nhau.”
Tần tiên sinh vuốt râu, giọng khàn vì thức trắng: “Điều tạm lập được, nhưng công tử chưa có chức chính trong thương đội. Muốn đổi quy củ cần gia chủ cho phép.” Ông vừa dứt lời, ngoài cửa vang lên tiếng gậy trúc gõ nền đá. Lão bộc của tổ phụ quay lại, đặt một hộp gỗ lên bàn. Trong hộp không có thư dài, chỉ có con dấu phụ dùng để kiểm sổ tạm thời và một tấm thẻ tre khắc chữ của Lục Sùng: “Tra sổ trước giờ Thìn, không để thương đạo đứt.” Rất giống tổ phụ. Ông ấy đưa dao, nhưng không nói dao này cắt dây hay cắt tay. Ta nhận con dấu, bỗng thấy nó nặng hơn cả hộp gỗ.
Có con dấu tạm, người cũ không thể lấy danh phận ép ta lùi, nhưng họ vẫn còn một câu hỏi thật. Một quản sự thuyền hàng nói: “Quy củ mới lập, ai làm chuyến đầu? Hàng nào dám đi? Thương hộ nào dám chờ công tử thử?” Ta nhìn ra ngoài bến. Sương trên sông loãng dần, chiếc thuyền đèn đỏ đã mất hút, nhưng dòng nước nó để lại vẫn còn đó. Muốn biết tuyến Nam bẩn đến đâu, phải có một chuyến hàng sạch tự mình đi qua nước bẩn.
“Dùng hàng của Lục gia.” Ta nói. “Không lấy hàng thương hộ, không kéo người ngoài chịu rủi ro. Bốn kiện vải thô, hai bao gạo cũ trong kho phụ, thêm một hòm dược liệu rẻ tiền do Vân Chi kiểm. Tuyến không đi xa, chỉ qua sông đến bến Đông Trấn rồi vòng về. Thanh Hành đi trên thuyền, Tào quản sự ở bến xuất, La quản sự ở bến nhận. Tần tiên sinh giữ bản gốc quy trình.” Thanh Hành lập tức nhướng mày: “Sao lại là ta?” Ta đáp: “Vì ngươi đủ khó chịu để người khác không dám dễ dàng tráo hàng trước mặt.” Vân Chi quay đi ho một tiếng, rõ ràng là đang nhịn cười. Thanh Hành tức đến bật cười lạnh: “Được, nếu mất một bao gạo, ta tính lên đầu ngươi.”
Vân Chi không nói thêm, chỉ lấy từ túi thuốc ra một sợi dây vải nhỏ, buộc lên miệng hòm dược liệu mẫu. Nút dây của nàng vừa gọn vừa lạ, tháo ra sẽ để vết. “Y quán dùng khi gửi thuốc quý. Không phải bí phương, có thể ghi vào quy trình.” Nàng ngẩng đầu, ánh mắt có chút đắc ý cố giấu. Ta nhìn nút dây ấy, chợt nhớ đến miếng bánh quế từng được bọc trong giấy dầu năm xưa. Nàng luôn đem đến những thứ rất nhỏ, rồi khiến chúng trở thành lý do để người khác đi qua chuyện lớn.
Giữa giờ Mão, tờ quy trình tạm đầu tiên của thương đội Lục gia được đóng dấu ngay tại kho phụ Bến Nam. Không có trống, không có lời tuyên bố hùng hồn, chỉ có mùi mực mới, tiếng bàn tính, tiếng phu thuyền gọi nhau ngoài bến và vài quản sự cũ nhìn nhau bằng ánh mắt nặng nề. Ta biết mình chưa lập được một thương đội sạch. Ta chỉ vừa đặt một cái cân lên giữa nơi đã quen cân bằng tay áo. Cân ấy còn thô, còn dễ bị đạp đổ, nhưng từ hôm nay, mỗi người muốn lấy thêm một văn đều phải nghĩ dấu tay của mình nằm ở đâu.
Khi mặt trời vừa nhô khỏi mái kho, chuyến hàng thử được chất lên chiếc thuyền nhỏ nhất ở bến. Bốn kiện vải thô, hai bao gạo cũ, một hòm dược liệu đã buộc nút, ba thẻ tre, hai bản sổ và một con dấu tạm. Thanh Hành đứng ở mũi thuyền, vẻ mặt khó chịu như bị phạt đi chơi xa. Vân Chi đứng cạnh bậc đá, khẽ nói: “Mong công tử Thanh Hành bảo vệ tốt mấy bao gạo cũ. Hiện tại chúng còn quý hơn mặt mũi vài vị quản sự.” Sau lưng có người ho sặc. Thanh Hành hừ một tiếng, nhưng khóe miệng lại nhúc nhích.
Thuyền rời bến trong ánh sáng mỏng đầu ngày. Ta đứng trên bờ, nghe thẻ tre treo ở mũi thuyền va nhau lách cách, nhỏ hơn tiếng bàn tính nhưng giống một ván tính mới bắt đầu. Đúng lúc ấy, hộ vệ được phái theo bờ nam từ trong sương chạy về, giày dính đầy bùn. Hắn quỳ một gối, thở gấp: “Công tử, chiếc thuyền đèn đỏ không ghé Lâm Châu. Nó vòng vào lạch cũ sau miếu Hà Bá. Trên bến lạch có người mặc áo kho quan chờ sẵn.” Kho quan. Hai chữ ấy rơi xuống, mọi tiếng động trên bến như bị kéo chậm lại. Ta nhìn chuyến hàng thử vừa ra giữa sông, rồi nhìn dòng lạch cũ khuất sau đám lau. Hóa ra tuyến đầu tiên của thương đội mới chưa kịp qua sông, ván cờ cũ đã đưa tay chờ ở bên kia nước.
