Chương 32: Chuyến Hàng Qua Sông
Ủng hộ Lăng Kính Truyện
Mở ưu đãi một lần để tiếp tục đọc. Thông báo này chỉ hiện lại sau 4 giờ.
Mở ưu đãi và tiếp tục đọcChương 32: Chuyến Hàng Qua Sông
Tin người mặc áo kho quan chờ ở lạch cũ vừa rơi xuống, chiếc thuyền thử của chúng ta đã đi khỏi bến hơn mười trượng. Trên mặt sông, ánh sáng đầu ngày còn mỏng như một lớp giấy dầu, Thanh Hành đứng ở mũi thuyền, một tay vịn dây thẻ tre, một tay đè chuôi đoản côn giấu bên hông. Ta không gọi hắn quay lại. Chuyến hàng đầu tiên nếu vừa nghe tin đã lùi, quy củ mới lập sẽ biến thành tờ giấy sợ nước; nhưng nếu cứ để nó đi như không biết gì, ta chính là lấy mấy bao gạo cũ và một hòm thuốc rẻ thử gan người sống. Có những ván cờ không thể bỏ, chỉ có thể đổi cách đặt quân.
Ta hỏi hộ vệ vừa chạy về: “Lạch cũ sau miếu Hà Bá thông ra khúc nào?” Hắn thở chưa đều, vẫn chỉ tay về phía đám lau phía nam: “Cách giữa sông chừng nửa dặm. Thuyền nhỏ có thể từ lạch đâm thẳng ra luồng Đông Trấn.” Vân Chi vốn đang nhìn theo thuyền, nghe vậy sắc mặt khẽ đổi. “Lạch ấy nước xoáy nhẹ, người không quen không dám ra lúc sáng sớm. Nếu họ chờ ở đó, hẳn đã biết chuyến nào sẽ qua.” Ta nhìn ba thẻ tre va nhau trên mũi thuyền. Chúng ta vừa đổi quy trình, người bên kia đã biết đâm vào đâu. Cái bẩn trong thương đội không chỉ nằm trên sổ, nó còn biết nghe tiếng giấy mới đóng dấu.
“Tào quản sự.” Ta gọi. Tào quản sự lập tức bước lên, mặt trắng hơn cả lúc bị bắt đêm qua. “Dẫn hai người quen đường bến men theo bờ nam, không đánh nhau. Đến miệng lạch, nhìn xem có thuyền nào ra. Nếu thấy cờ quan, hỏi giấy lệnh trước mặt dân phu trên bờ, càng nhiều người nghe càng tốt.” Hắn nuốt khan: “Nếu thật là người kho quan?” “Người thật càng không sợ giấy lệnh.” Ta quay sang Tần tiên sinh. “Tiên sinh giữ bản gốc ở đây. Từ giờ, bất cứ người nào lấy danh quan phủ kiểm hàng giữa sông đều phải nói được số thẻ, số kiện, người áp hàng và bến nhận. Thiếu một thứ, ghi là cướp.” Tần tiên sinh cầm bút, bàn tay già nua nhưng nét mực rất thẳng: “Công tử định bắt người bằng giấy?” “Bắt cướp bằng côn, bắt áo quan giả bằng giấy.” Ta đáp. “Không có giấy, họ chỉ là người cầm dao mặc áo mượn.”
Vân Chi bỗng kéo tay áo ta một cái rất khẽ. Nàng không nhìn ta mà nhìn chiếc hòm dược liệu trên thuyền. “Nút niêm của ta có hai vòng. Vòng ngoài ai cũng thấy, vòng trong giấu dưới mép dây. Nếu bị mở vội, nút ngoài có thể buộc lại, nhưng vòng trong sẽ lệch. Ngươi nhớ nói Thanh Hành đừng vì giữ mặt mũi mà đánh rơi cả hòm xuống nước.” Trong tình thế này, lời dặn của nàng nghe vừa nghiêm túc vừa giống đang mắng trước. Ta suýt cười, rồi lại thấy cổ họng hơi chát. Nàng luôn hiểu ta đang nghĩ gì: chứng cứ có thể mất, nhưng người không được mất. Ta gọi một phu thuyền giỏi bơi, nhét thẻ tre dự phòng vào tay hắn: “Chèo thuyền con ra sát luồng. Nói với Thanh Hành: không mở hòm giữa sông, không rời thuyền, giữ người trước, giữ hàng sau.” Phu thuyền lĩnh lệnh lao xuống bậc đá, thuyền con lập tức rẽ nước đi như mũi kim.
Chiếc thuyền thử đi đến gần giữa sông thì mặt lau phía nam động. Hai chiếc thuyền mui thấp từ lạch cũ lướt ra, thân sơn đen, đầu thuyền cắm một lá cờ nhỏ viết chữ “kiểm”. Người đứng đầu mặc áo xanh xám kiểu kho quan, bên hông đeo thẻ gỗ, dáng đứng không giống phu bến nhưng cũng không giống sai dịch quen đi công vụ. Khoảng cách xa, ta không nhìn rõ mặt hắn, chỉ thấy hắn nâng tay, thuyền sau lập tức tản ra kẹp hai bên luồng. Một tiếng quát truyền trên mặt nước: “Kho quan kiểm hàng giả! Thuyền Lục gia dừng lại!” Trên bờ, mấy phu khuân hàng vừa tan việc đều dừng chân. Đó là điều ta muốn. Nếu họ dùng danh quan phủ, vậy phải để danh ấy đứng giữa tai mắt người Thanh Châu.
Thanh Hành quả nhiên không làm ta thất vọng ở điểm khó chịu. Hắn không dừng ngay, cũng không xông lên đánh người, chỉ nâng thẻ tre ở mũi thuyền lên, giọng vang qua sông: “Chuyến thử Lục gia, bốn kiện vải, hai bao gạo, một hòm dược liệu rẻ, bến xuất Bến Nam, bến nhận Đông Trấn. Muốn kiểm thì đưa giấy lệnh, lên bờ đối sổ. Giữa sông không mở niêm.” Người áo kho quan lạnh giọng: “Quan phủ làm việc, còn cần hỏi một công tử miệng còn mùi sữa?” Thanh Hành cười nhạt: “Ta miệng còn mùi sữa, nên sợ nhìn nhầm cướp thành quan. Có giấy thì đưa, không có giấy thì tránh luồng.” Vân Chi đứng cạnh ta khẽ hít một hơi, chắc là vừa lo vừa muốn khen hắn một câu. Ta quyết định sau này nếu Thanh Hành còn châm chọc, sẽ tính bớt hắn nửa lần nợ.
Người áo kho quan không đưa giấy. Hắn giơ tay, chiếc thuyền bên trái bất ngờ vung móc sắt quắp vào mạn thuyền thử. Một tên khác nhào sang, không đoạt vải cũng không động đến bao gạo, mà chém thẳng vào dây buộc hòm dược liệu. Chỉ một động tác ấy đã đủ. Cướp bình thường thấy gì nặng lấy nấy, người này chỉ nhắm hòm thuốc đã buộc niêm của Vân Chi. Ta nghe Tần tiên sinh sau lưng trầm giọng: “Ghi: giả danh kho quan, đoạt hòm dược.” Nét bút của ông cào lên giấy, âm thanh nhỏ mà sắc hơn tiếng dao trên mặt nước.
Thanh Hành dùng côn chặn móc sắt, nhưng thuyền thử nhỏ, bị hai chiếc thuyền kẹp lại liền chao nghiêng. Phu thuyền ôm bao gạo lăn xuống sàn, một kiện vải thô trượt nửa thân ra khỏi mạn. Tên cướp thứ hai đã kéo được dây hòm, mắt thấy chiếc hòm dược liệu rời khỏi sàn thuyền. Vân Chi nắm chặt túi thuốc bên hông, đầu ngón tay trắng bệch. Ta không nói nàng buông ra, bởi chính tay ta cũng đang bấu vào mép cọc gỗ. Người tính sổ giỏi đến đâu, khi người mình quen đứng giữa sông bị ép, cũng không thể thật sự bình tĩnh như bàn tính. Nhưng ta không được phép hô loạn. Một câu sai lúc này sẽ khiến người trên thuyền chết vì muốn nghe ta.
Thuyền con của phu bơi vừa kịp áp sát đuôi thuyền thử. Hắn ném thẻ tre lên, hét: “Công tử nói giữ người trước!” Thanh Hành nghe được, động tác khựng đúng một nhịp. Hắn không lao theo hòm dược nữa mà đạp thẳng vào cánh tay tên đang nhảy sang, khiến đối phương rơi nửa người xuống nước. Chiếc hòm dược liệu bị móc kéo sang thuyền đen, dây niêm ngoài bật tung, nhưng vòng dây trong còn mắc ở một góc chốt gỗ. Tên cướp sốt ruột chém một nhát, dây vải rách thành hai đoạn. Vân Chi bỗng nói rất nhỏ: “Rách rồi.” Không phải tiếc dây. Nàng đang ghi nhớ vết rách, giống một đại phu nhìn vết thương biết lưỡi dao từ đâu đến.
Cùng lúc ấy, từ bờ nam vang lên tiếng người hô. Tào quản sự dẫn hai hộ vệ và mấy dân phu kéo một chiếc thuyền bầu cũ chắn ngang miệng lạch. Hắn không dám đánh thật, nhưng rất biết cách làm người khác khó chịu: đứng ngay trước đám dân phu mà hô giấy lệnh. “Kho quan nào kiểm hàng không có công văn? Họ tên người lĩnh lệnh là gì? Lệnh từ nha môn hay kho giám?” Người áo kho quan trên thuyền đen quay đầu, rõ ràng không ngờ miệng lạch đã có người chặn hỏi. Nếu hắn thật là quan, hắn sẽ mắng. Nhưng hắn lại nhìn con nước và ra hiệu rút. Đó là thói quen của người làm việc bẩn: trước khi nghĩ tới danh phận, họ nghĩ đường chạy.
Một chiếc thuyền đen kéo được hòm dược quay mũi vào lạch, chiếc còn lại ở lại cản. Thanh Hành lần này không nhịn nữa. Hắn quăng côn vào tay lái đối phương, rồi túm cổ áo tên vừa rơi ướt sũng kéo thẳng lên thuyền thử. Người nọ vùng vẫy rất dữ, cổ tay có vết chai của người cầm bút lẫn cầm dây, không giống dân cướp sông chỉ sống bằng mái chèo. Hắn định cắn vào tay Thanh Hành, bị Thanh Hành đè đầu xuống sàn thuyền, tức giận mắng: “Cướp gạo thì ta còn hiểu, cướp hòm thuốc rẻ làm gì? Nhà ngươi nghèo đến mức uống cam thảo thay cơm à?” Trong lúc căng như dây đàn, câu ấy làm mấy phu bến trên bờ bật cười rồi lập tức im bặt. Cười trong lúc có người bị bắt quả thật không hợp lễ, nhưng rất hợp với Thanh Hành.
Chiếc thuyền đen mang hòm dược vẫn thoát vào lạch. Ta không cho người đuổi sâu. Lạch cũ sau miếu Hà Bá quanh co, bên trong đã có áo kho quan thật hay giả chờ sẵn, đuổi vào chỉ biến người của ta thành cá trong rọ. Thứ họ cướp được là hòm thuốc rẻ đã ghi số, dây niêm đã rách, thẻ hàng đã lưu bản gốc, lại có cả bờ nam làm chứng họ không đưa giấy lệnh. Một hòm hàng mất đi, đổi lấy một chiếc áo giả lộ trước mắt dân và một người sống bị giữ lại. Cái giá này không rẻ, nhưng còn nằm trên bàn tính. Điều khiến ta lạnh lưng là bọn họ biết chọn đúng thứ cần cướp; nghĩa là phiếu kiểm dược của Vân Chi đã chạm vào chỗ đau của ai đó nhanh hơn ta tưởng.
Thuyền thử cập lại Bến Nam trước khi sang Đông Trấn. Theo quy trình, đó là một chuyến không hoàn tất; theo thương đạo cũ, đó là điềm xấu; theo ta, đó là lần đầu tiên thương đội Lục gia có thể chỉ ra mình mất gì, mất ở đâu, mất trong tay ai và trước mặt những người nào. Thanh Hành áp tên cướp xuống bậc đá, áo hắn ướt sũng, thẻ gỗ bên hông bị giật rơi. Tần tiên sinh nhặt lên, lau bùn, sắc mặt hơi đổi. Trên thẻ có khắc chữ kho, nhưng nét khắc cạn, cạnh gỗ mới, không có dấu nung của kho quan Thanh Châu. Vân Chi nhìn đoạn dây rách trong tay phu thuyền, rồi nhìn thẻ gỗ, nhẹ giọng nói: “Nút của ta bị cắt bằng dao cong. Y quán từng thấy loại dao ấy ở người vận dược đường xa, không phải sai dịch kho quan thường dùng.”
Tên cướp bị trói quỳ dưới nền đá, cúi đầu không nói. Thanh Hành đá nhẹ vào thẻ gỗ trước mặt hắn: “Ai đưa ngươi thứ giả này?” Hắn vẫn câm, nhưng khi Tần tiên sinh sai người đọc lại biên bản “giả danh kho quan, cướp hòm dược liệu”, vai hắn run lên rất nhỏ. Ta ngồi xuống trước mặt hắn, đặt chiếc bàn tính cũ bên cạnh. Những hạt tính còn dính hơi ẩm sông, lách cách một tiếng khi ta gạt về không. “Ngươi không khai cũng được. Người không biết chữ nghe biên bản thường chỉ sợ chữ ‘cướp’. Người từng ở kho quan mới sợ bốn chữ ‘giả danh kho quan’.” Hắn ngẩng phắt đầu lên, ánh mắt vừa hoảng vừa giận. Trong khoảnh khắc ấy, ta thấy trên ngón cái tay phải hắn có một vệt mực xanh đã ngấm vào kẽ móng. Không phải mực viết sổ dân gian. Là loại mực kho quan dùng để đóng dấu phụ lên thẻ vận hàng.
Bến Nam yên lặng lạ thường. Chuyến hàng qua sông chưa qua được sông, nhưng nó đã kéo được một người từ lạch cũ lên bờ. Ta nhìn về phía miếu Hà Bá khuất sau đám lau, nơi chiếc thuyền đen và hòm dược liệu rẻ tiền biến mất. Nước sông vẫn chảy, như chưa từng có dao, cờ giả hay tiếng người quát tháo trên mặt nó. Ta biết ngày hôm nay chưa phải thắng. Một tên cướp sống đôi khi nguy hiểm hơn một hòm chứng cứ chết, vì người đứng sau hắn sẽ muốn bịt miệng nhanh hơn chúng ta kịp mở. Ta khép bàn tính lại, nói với Thanh Hành: “Đưa hắn vào kho phụ. Không để hắn rời mắt nửa bước.” Tên cướp cúi đầu, nhưng môi hắn khẽ mấp máy. Ta nghe được hai chữ rất nhỏ, nhỏ đến mức gần như bị tiếng nước nuốt mất: “Kho… lệnh…”
