Chương 30 - Chương 30: Không Rời
Chương 30: Không Rời
Rời khỏi thủy tạ của nhị thúc, ta mới phát hiện gió ngoài hồ sen cạn lạnh hơn lúc đến rất nhiều. Hơi trà sau lưng còn vương trong tay áo, mùi thơm thanh nhạt như một câu khuyên bảo đứng đắn, nếu không nghe thấy những lời vừa rồi, có lẽ ta cũng sẽ tin đó chỉ là một đêm trưởng bối gọi cháu đến dặn dò đôi câu. Người hầu xách đèn đi trước, ánh lửa chập chờn trên mặt đá ướt, mỗi bước chân như đạp lên một dòng chữ chưa khô trong sổ phụ. Lộ dẫn tuyến Nam, rời Thanh Châu trước giờ Thìn. Mấy chữ ấy không nằm trong tay ta, nhưng lại như một tờ giấy đã nhét vào ngực áo, cộm đến mức hít thở cũng thấy vướng.
Xe ngựa của nhị phòng chờ ngoài cửa nguyệt động. Người đánh xe cúi đầu rất thấp, nói: “Công tử, nhị gia dặn, nếu công tử mệt, có thể về viện nghỉ trước. Nếu muốn xem thuyền tuyến Nam, người ở bến cũng đã chờ.” Câu sau nói nhỏ hơn câu trước, nhưng trong đêm yên tĩnh, nhỏ mới càng giống dao. Ta nhìn ngọn đèn treo trên càng xe. Một con bướm đêm đâm đầu vào lồng giấy, cánh mỏng chạm lửa rồi vội bay ra, trên mép cánh đã cháy một chấm đen. Nó ít ra còn biết lui. Người thì không phải lúc nào cũng được quyền lui.
“Giờ nào rồi?” Ta hỏi. Người hầu đáp: “Cuối giờ Dần.” Còn chưa đến giờ Mão. Thanh Hành hẳn vẫn đang giữ sổ ở Bến Nam, Tần tiên sinh đang niêm lời khai, Tào quản sự hoặc đang viết đến run tay, hoặc đang nghĩ xem viết thiếu dòng nào thì chết ít hơn. Nhị thúc muốn ta trước giờ Thìn rời đi, nghĩa là từ giờ Dần đến giờ Thìn, ông ta cần một khoảng trống. Một thiếu niên biến mất khỏi Thanh Châu bằng lộ dẫn hợp lệ, một quyển sổ phụ bị quy thành lỗi của Chu quản quỹ, một y quán được mở lại trong tiếng thở phào, mọi người đều có lý do để nói: dừng ở đây là tốt rồi.
Ta bước xuống bậc cuối cùng, chưa lên xe đã nghe bên tường ngoài có tiếng người khẽ ho. Tiếng ho ấy rất nhẹ, nhưng không giống người hầu trong phủ cố ý báo hiệu. Ta quay đầu. Dưới bóng cây hòe gần cửa hông, một chiếc áo choàng màu xanh nhạt lộ ra nửa vạt, trên mũ áo còn dính sương. Tạ Vân Chi đứng đó, tay ôm một túi thuốc nhỏ, đôi mắt trong bóng đêm sáng đến mức khiến ta nhất thời không biết nên mắng nàng gan lớn, hay nên thở ra vì nàng vẫn đứng ở chỗ có thể nhìn thấy.
“Ngươi không về Tạ gia?” Ta đi tới trước khi người hầu kịp lên tiếng. Vân Chi liếc người hầu sau lưng ta, rồi thấp giọng nói: “Về rồi. Nhưng đi được nửa đường, ta nhớ ra một việc.” “Việc gì?” “Trà của người xấu không chỉ không nên uống, còn không nên để họ tự mình rửa chén, tự mình dọn bàn, tự mình tiễn khách.” Nàng nói rất nghiêm túc, nếu không phải đầu ngón tay đang siết chặt túi thuốc đến trắng bệch, ta suýt tưởng nàng thật sự chỉ đến quản một chén trà.
Ta nhìn sang người hầu nhị phòng. Hắn lập tức cúi đầu, làm như mình chưa từng nghe thấy gì. Vân Chi lại nói: “Ta không vào trong. Ta chỉ đứng ngoài cửa hông. Vừa rồi có hai người nói chuyện, một người hỏi thuyền tuyến Nam đã chuẩn bị chưa, người kia nói chỉ cần công tử chịu đi, Tạ gia bên kia sẽ không có việc. Ta nghe không nhiều, nhưng nghe đủ.” Gió thổi qua tường trắng, làm cành hòe khô cọ vào nhau. Ta chợt cảm thấy lời uy hiếp của Lục Thừa Viễn không còn là một chén trà để riêng trước mặt ta nữa. Nó đã tràn khỏi miệng chén, chảy đến chân nàng.
“Vân Chi.” Ta cố giữ giọng mình bình thường. “Chuyện này chưa chắc liên quan trực tiếp đến nàng.” Nàng nhìn ta như nhìn một người bệnh vừa uống thuốc sai đơn còn cố giấu bát. “Ngươi nói câu ấy với người khác có lẽ còn được. Với ta thì không. Nếu họ dùng Tạ gia đổi lấy việc ngươi rời Thanh Châu, vậy chuyện này đã liên quan đến ta từ lúc họ đặt tên Tạ gia lên bàn trà.” Ta im lặng. Nàng tiến thêm nửa bước, hạ giọng thấp hơn. “Lục Hoài Tranh, ngươi có định đi không?”
Câu hỏi ấy nặng hơn phong thư trên bàn trà. Ta từng rất quen với việc tính đường lui. Ở hiện đại, một phương án không có đường lui là phương án tồi; ở Lục gia, một thiếu niên không biết lui có thể biến thành bài vị rất nhanh. Nhưng có những đường lui được người khác vẽ sẵn, nhìn thì rộng, thật ra chỉ dẫn đến chỗ họ muốn chôn mình. Lâm Châu có lẽ thật sự có cửa hàng Lục gia. Thuyền tuyến Nam có lẽ thật sự có lộ dẫn hợp lệ. Tạ gia có lẽ thật sự có thể yên ổn vài ngày. Chỉ là sau vài ngày ấy, Lưu Nhị sẽ chết thành một con số sai, Mã Bình sẽ biến thành kẻ nói dối, quyển sổ phụ sẽ bị xé thành tro, còn Tô Diên vẫn là cái tên bị người ta dùng trà nóng phủ bụi.
Ta đáp: “Không đi.” Vân Chi thở ra rất nhẹ, như vừa đặt xuống một bát thuốc sắp tràn. Nhưng nàng chưa kịp nói gì, người hầu nhị phòng đã bước lên, giọng vẫn cung kính: “Công tử, nhị gia cũng nói, đêm sâu đường lạnh, có việc nên nghĩ kỹ. Trước giờ Thìn còn kịp đổi ý.” Ta quay đầu nhìn hắn. Người này lưng vẫn khom, tay vẫn xách đèn, nhưng bóng của hắn kéo dài trên mặt đất, vừa khéo chắn giữa ta và Vân Chi. Ta bỗng hiểu vì sao Lục Thừa Viễn thích dùng người hầu biết cúi đầu. Người biết cúi đầu thường khiến người khác quên mất hắn đang đứng ở đâu.
“Vậy ngươi trở về bẩm nhị thúc.” Ta nói. “Chén trà của ông ấy ta không uống. Đường Nam của ông ấy ta cũng không đi. Trước giờ Thìn, nếu ông ấy muốn tìm ta, đến Bến Nam xem sổ.” Người hầu ngẩng đầu trong thoáng chốc, ánh mắt lộ ra một vệt hoảng rất nhỏ, nhanh hơn cả ánh đèn lay động. Hắn lập tức cúi xuống: “Tiểu nhân không dám truyền sai lời.” “Không sao.” Ta nói. “Ta nói ngắn, khó sai.” Vân Chi ở bên cạnh bỗng khẽ ho một tiếng, lần này không phải vì lạnh, mà vì nhịn cười không đúng lúc. Trong một đêm có người chết, có trà độc lòng người và lộ dẫn ép đi, tiếng cười bị nàng nuốt lại ấy nhỏ đến đáng thương, nhưng vẫn giống một điểm sáng lọt qua khe cửa.
Ta không lên xe của nhị phòng. Xe ấy quá sạch, sạch đến mức không hợp với bùn ở Bến Nam. Ta gọi hộ vệ đi theo từ xa đến, bảo hắn đổi sang con đường ven sông. Vân Chi lập tức theo sau. “Nàng về Tạ gia.” Ta nói. “Ta đến Bến Nam.” “Ta cũng đến Bến Nam.” “Ở đó vừa có người chết.” “Cho nên mới cần người biết nhìn người sống còn thở có ổn không.” Nàng nâng túi thuốc trong tay lên. “Cha ta bảo ta đem thuốc an thần cho ngươi. Ta vốn định nhờ người chuyển vào, nhưng giờ xem ra chuyển qua miệng người khác dễ bị thêm vị Lâm Châu.” Ta nghẹn một chút. Có người khi lo lắng sẽ khóc, có người sẽ run, còn Vân Chi lại có thể biến nỗi sợ thành một câu châm nhẹ. Nàng không làm nỗi sợ biến mất, nhưng khiến người đứng bên cạnh không bị nó nuốt trọn.
Đường từ Lục phủ ra Bến Nam vốn không xa, đêm nay lại dài như đi qua một năm. Trên xe nhỏ mượn của hộ vệ, Vân Chi ngồi đối diện ta, túi thuốc đặt giữa hai người. Nàng không hỏi nhị thúc đã nói gì về mẫu thân ta. Có lẽ nàng đã đoán lời trong thủy tạ không chỉ liên quan đến Tạ gia. Có lẽ nàng biết hiện tại hỏi sẽ khiến ta phải mở một vết thương chưa kịp cầm máu. Nàng chỉ rút từ tay áo ra một miếng bánh quế bọc giấy dầu, đặt cạnh túi thuốc. “Ăn đi. Không phải trà, không bỏng lưỡi.”
Ta nhìn miếng bánh một lúc. Hương quế rất nhạt, vì bánh đã nguội, mép còn hơi vụn do bị nàng giấu trong tay áo quá lâu. Nhiều năm trước, cũng là mùi quế như vậy len vào từ đường lạnh ngắt, khiến một người vừa tỉnh lại trong thân xác xa lạ biết mình còn có thể sống thêm một ngày. Ta cầm bánh lên, bẻ một nửa trả cho nàng. “Đêm nay tính là ta mời.” Nàng nhướng mày: “Mời bằng bánh của ta?” “Lục gia gần đây thiếu bạc sạch.” Nàng nhìn ta mấy hơi rồi bật cười thật khẽ. Nửa miếng bánh ấy vào miệng vẫn khô, nhưng vị ngọt chạm đến cổ họng, đè được một chút vị đắng của trà chưa uống.
Khi xe đến Bến Nam, trời vẫn chưa sáng. Mặt sông đen sì, đèn trên bến bị gió thổi nghiêng, mùi bùn và dầu đèn quen thuộc ùa lại, kéo ta từ thủy tạ nho nhã về đúng chỗ ván cờ đang nằm. Thanh Hành đứng trước kho phụ, áo ngoài phủ sương, vừa thấy ta xuống xe liền bước nhanh đến. Hắn nhìn ta, rồi nhìn Vân Chi, sắc mặt phức tạp như vừa muốn mắng vừa muốn hỏi. Cuối cùng hắn chỉ nói: “Còn sống à?” Ta đáp: “Tạm thời.” Hắn cười lạnh: “Ta còn tưởng phải đem bản sao đến đập cửa tổ phụ.” “Ngươi vẫn có thể đem.” Ta nói. “Nhưng lần này không phải vì ta chết, mà vì có người muốn ta sống xa Thanh Châu.”
Nụ cười trên mặt Thanh Hành lập tức tắt. Tần tiên sinh từ trong kho đi ra, hai mắt đỏ vì thức trắng, tay ôm một xấp giấy đã buộc dây. Tào quản sự theo sau, môi khô nứt, trên ngón tay toàn mực. Hắn thấy ta liền quỳ xuống theo phản xạ. Ta không để hắn nói lời xin tội. “Danh sách đến đâu rồi?” Tào quản sự vội dâng giấy. “Ba tháng qua, hàng gửi qua Bến Nam tổng cộng một trăm bảy mươi hai chuyến. Có hai mươi sáu chuyến ghi hàng dược liệu nhưng không qua kho kiểm thuốc, mười một chuyến thiếu người ký nhận, bốn chuyến dùng dấu tạm của tuyến Nam.” Hắn nuốt nước bọt. “Trong bốn chuyến ấy, có một chuyến ghi đi Lâm Châu.”
Hai chữ Lâm Châu vừa rơi xuống, gió trên bến như lạnh thêm một lớp. Thanh Hành mắng khẽ một tiếng. Tần tiên sinh lập tức mở một tờ khác, chỉ vào hàng chữ nhỏ. “Chuyến này xuất bến mười bảy ngày trước, người áp hàng là thủ hạ của Chu quản quỹ, nhưng người duyệt dấu tạm không phải Chu quản quỹ.” Ta nhìn vào khoảng trống sau mục duyệt dấu. Nơi ấy đáng lẽ phải có tên người, lại chỉ có một nét mực kéo ngang, giống như ai đó cố tình làm cho dòng sổ bị cụt chân. Đêm nay Lục Thừa Viễn bảo ta đi Lâm Châu, chưa chắc chỉ để ta rời khỏi Thanh Châu. Có lẽ đó còn là tuyến đường quen thuộc nhất để người ta làm một món hàng, một người, hoặc một sự thật biến mất khỏi sổ.
Vân Chi đứng bên cạnh ta, sắc mặt đã trắng đi, nhưng ánh mắt không tránh. Nàng cầm lấy danh sách dược liệu phụ, xem rất nhanh. “Chuyến mười bảy ngày trước ghi cam thảo, bạch chỉ, hoàng kỳ, nhưng thứ tự đóng kiện sai.” Tào quản sự ngẩn ra. “Thứ tự cũng tính?” Vân Chi nói: “Dược liệu dễ hút ẩm không đặt sát đáy thuyền. Người Tạ gia đóng hàng sẽ không xếp như vậy. Đây không phải hàng từ y quán chúng ta đưa ra, nhưng cố ý ghi giống đơn Tạ gia.” Nàng chỉ vào một dòng. “Nếu muốn vu cho chúng ta, họ cần người ngoài tin rằng Tạ gia từng đưa một chuyến hàng sạch đi qua tuyến này. Ta có thể về y quán lấy sổ phơi thuốc và phiếu bốc dược đối chiếu.”
Ta nhìn nàng. Trước đó không lâu, nhị thúc dùng Tạ gia làm dây buộc chân ta. Nhưng ngay tại kho phụ gió lạnh này, người bị đem ra uy hiếp lại tự mình bước đến, cầm lấy một đầu dây. Ta muốn nói nguy hiểm, muốn nói nàng không cần gánh, muốn nói chuyện này vốn là vũng bùn của Lục gia. Nhưng những câu ấy lên đến miệng đều dừng lại. Nàng ghét bị xem là người ngoài. Nàng cũng không phải hoa đăng treo yên dưới mái hiên để người khác ngắm sáng rồi thay nàng chắn gió. Hoa đăng thật sự trôi trên nước, nếu nước chảy xiết, nó cũng phải tự tìm cách không tắt.
Ta nói với Tần tiên sinh: “Niêm riêng bốn chuyến dùng dấu tạm tuyến Nam. Chép ba bản, một bản đưa tổ phụ trước giờ Mão, một bản giữ ở kho phụ, một bản giao cho Thanh Hành. Tào quản sự, trước khi trời sáng, tìm người từng bốc chuyến Lâm Châu. Không hỏi trong kho, hỏi phu thuyền ngoài bến. Người ăn lương tháng biết sợ quản sự, người ăn công nhật sợ không có tiền hơn.” Tào quản sự vội đáp. Thanh Hành nhìn ta: “Còn ngươi?” Ta cầm bút, viết lên đầu tờ danh sách bốn chữ: Không rời Thanh Châu. Mực đen thấm vào giấy, không đẹp, nhưng đủ rõ. “Ta ở đây chờ trời sáng.”
Vân Chi bỗng đưa tay giữ mép giấy, không để gió thổi lật. Nàng nhìn dòng chữ kia rất lâu rồi nói: “Nếu ngươi không rời, vậy ta cũng không đứng ngoài.” Ta nhíu mày. Nàng ngẩng đầu, ánh đèn bến Nam rơi trong mắt nàng, nhỏ mà sáng. “Đừng vội mắng. Ta không cầm kiếm, cũng không biết đánh nhau. Nhưng thuốc thật hay giả, đơn thuốc nào có thể bị mượn tên, phu thuyền nào từng đến y quán bốc hàng, ta biết nhiều hơn ngươi.” Nàng dừng một chút, giọng nhẹ hơn, nhưng từng chữ đều chắc. “Lục Hoài Tranh, lần này ta sẽ giúp ngươi. Không phải vì ngươi cứu Tạ gia, mà vì ta cũng muốn biết ai dùng mạng người và thuốc giả để ép chúng ta cúi đầu.”
Ta nhìn nàng, rồi nhìn mặt sông tối bên ngoài kho. Phía đông vẫn chưa sáng, nhưng trên đường nước xa xa đã có một chiếc thuyền treo đèn đỏ chậm rãi rời bến, lặng lẽ xuôi về hướng nam. Gió đưa tiếng mái chèo chạm nước vọng lại, từng nhịp đều đều như hạt bàn tính bị gạt sang một cột mới. Ta biết từ khoảnh khắc ấy, lời từ chối của ta đã không còn là một câu nói trước người hầu nhị phòng. Nó là một khoản nợ mới, một vết mực mới, và cũng là cánh cửa mở sang một ván cờ lớn hơn. Trước giờ Thìn, có người muốn ta rời Thanh Châu. Nhưng trước khi trời sáng, ta phải biết chiếc thuyền tuyến Nam kia đã mang theo thứ gì.
