Bỏ qua nội dung

Ban Tinh Duoi Hoa Dang

Chương 19: Không Phải Chuyện Trẻ Con

Chương 19: Không Phải Chuyện Trẻ Con

Vân Chi nói không cứu kịp xong, sân sau Kho Tây yên đến mức ta nghe rõ tiếng mưa rơi từ mái hiên xuống bùn. Triệu Nhị nằm nghiêng dưới đất, miệng còn bị nàng dùng khăn chặn lại, sắc mặt xám ngoét như tro nguội. Một khắc trước hắn còn là manh mối biết nói, một khắc sau đã biến thành một trang sổ bị xé mất chữ quan trọng nhất. Ta từng nghĩ người chết trong cổ đại cách mình rất xa, giống những dòng ghi chép khô khan trong sách sử. Đến khi mùi dầu đèn, mùi thuốc độc và mùi đất bùn trộn vào nhau ngay trước mặt, ta mới hiểu có những trang sổ không cần mực đỏ vẫn đủ làm mắt người đau.

A Bình run rẩy lùi nửa bước, nhưng vẫn nhớ chắn trước ta theo thói quen. Ta đặt tay lên vai hắn, không dùng lực, chỉ để hắn biết không cần ngã theo người chết. Lục Thanh Hành đứng cạnh thi thể, môi mím thành một đường thẳng. Hắn vừa kéo ta khỏi lửa, lại tự tay giữ được kẻ phóng hỏa, đáng lẽ nên có chút hả hê của thiếu niên thắng trận. Nhưng trước một cái xác còn ấm, mọi hơn thua trong gia học bỗng thành thứ rất nhỏ. Vân Chi lau đầu ngón tay vào khăn ướt, giọng thấp hơn mọi khi: “Trong kẽ răng hàm có sáp. Viên thuốc được bọc rất mỏng, cắn một cái là vỡ. Người giấu thứ này không định để hắn sống qua đêm nay.”

Lưu quản sự quỳ bên mái hiên, lập tức dập đầu: “Gia chủ, tiểu nhân quản người không nghiêm, để Triệu Nhị nhất thời hồ đồ phóng hỏa rồi sợ tội tự sát. Tội này tiểu nhân xin chịu.” Câu nói ấy nghe rất biết điều, cũng rất vội. Người thật sự muốn nhận tội thường sợ mình nói thiếu; người muốn chặn tội lại sợ người khác nói thêm. Ta nhìn mũi giày của ông ta dính bùn sạch, không có tro trắng, rồi nhìn bàn tay ông ta giấu dưới tay áo. Lục Sùng chưa lên tiếng. Tần tiên sinh ôm hộp sổ phụ và sổ kiểm đứng bên cạnh, ánh mắt từ thi thể chuyển sang Lưu quản sự, rồi dừng ở ta.

Ta nói: “Xin tổ phụ cho người che mưa quanh thi thể, đừng vội khiêng đi. Tay áo, móng tay, răng, giày, thắt lưng, túi áo của Triệu Nhị đều phải ghi lại trước mặt nhân chứng.” Một quản sự khác nhíu mày: “Tiểu công tử, người đã chết rồi, còn lục soát như vậy có phải…” Ta quay sang nhìn ông ta. “Chính vì chết rồi nên mới phải lục soát. Người sống còn có thể đổi lời, người chết chỉ còn vật trên người nói thay.” Vân Chi liếc ta một cái, ánh mắt vẫn lạnh nhưng đầu ngón tay đã nhanh hơn lời nói. Nàng bảo A Bình lấy khay đất, lại nhờ Tần tiên sinh ghi từng món. Một cô nương y quán làm việc còn có quy củ hơn nửa số người tự xưng quản kho của Lục gia, nghĩ đến đây ta thấy hơi buồn cười, nhưng cổ họng bị khói cào rát, cười không nổi.

Từ túi áo trong của Triệu Nhị, A Bình lấy ra một đoạn dây gai đen, một mảnh giấy dầu nhăn và hai đồng tiền bị khói hun. Dây gai cùng loại với lõi khô giấu sau ván tường, giấy dầu thì dính sáp nâu rất mỏng. Vân Chi dùng đầu trâm gạt sáp ra, bỗng khựng lại. Trên mép giấy có một dấu dập chìm nhỏ đến mức nếu không dính nước mưa làm giấy phồng lên, e rằng không ai nhìn thấy. Dấu ấy không tròn như dấu cửa hiệu bình thường, mà là nửa chữ triện bị ép lệch, một nét thủy bên cạnh một nét giống chữ mộc, ghép lại mơ hồ thành một chữ “Thẩm”. Ta chưa từng thấy dấu này trong sổ Lục gia, nhưng Tần tiên sinh vừa nhìn đã vô thức khép nắp hộp sổ lại.

“Tiên sinh nhận ra?” ta hỏi.

Tần tiên sinh chậm rãi đáp: “Thanh Châu có nhiều họ Thẩm, cửa hiệu cũng có người dùng chữ này. Chưa thể kết luận.” Ông nói rất đúng, đúng đến mức không ai bắt lỗi được. Nhưng trên đời này có những câu đúng được dùng để mở đường, cũng có những câu đúng được dùng để đóng cửa. Ta không truy hỏi nữa, chỉ nói: “Ghi lại là trên giấy dầu bọc thuốc có dấu triện giống chữ Thẩm. Không thêm, không bớt.” Tần tiên sinh nhìn ta một lát, cuối cùng cúi đầu ghi. Lưu quản sự vẫn quỳ, lưng run nhẹ. Không biết là vì lạnh, vì sợ, hay vì nghe thấy một chữ vốn không nên xuất hiện ở sân sau Kho Tây trong đêm mưa.

Lục Thừa Viễn đến vào lúc người ta đang đối chiếu giày của Triệu Nhị với dấu tro trong kho. Nhị thúc che ô giấy, áo ngoài không dính một giọt mưa quá thừa, như thể ngay cả thời tiết cũng biết giữ lễ với ông. Ông nhìn góc tường cháy xém, nhìn thi thể, rồi thở dài: “Phụ thân, chuyện đêm nay đã kinh động cả nội viện. Hoài Tranh còn nhỏ, vừa qua khảo hạch đã gặp phóng hỏa tự sát, e rằng bị dọa không nhẹ. Điều tra mạng người và kho lương nên giao cho trưởng bối, không thể để trẻ con tiếp tục đứng giữa bùn máu.” Lời ấy nghe như thương ta. Nếu ta không phải người bị nhốt trong từ đường mấy tháng trước, có lẽ ta cũng muốn cảm động một chút.

Thanh Hành bỗng nói: “Nhị thúc, nếu không có nó, sổ đã cháy rồi.” Lục Thừa Viễn nhìn hắn, không trách, chỉ cười nhạt: “Ta không phủ nhận Hoài Tranh có công. Có công càng phải bảo vệ, không thể vì nó thông minh hơn bạn cùng tuổi mà quên nó vẫn là đứa trẻ của Lục gia.” Bốn chữ “đứa trẻ của Lục gia” rơi xuống rất nhẹ, nhưng trói người còn chặt hơn dây gai. Trẻ con có thể được khen, được thưởng, được đem ra làm bằng chứng cho gia học công bằng; nhưng khi sự việc chạm đến thuốc độc, chữ Thẩm, sổ phụ và người lớn, trẻ con lập tức nên về phòng uống thuốc an thần.

Ta cúi đầu ho một tiếng, khăn ướt trong tay đã lạnh. Vân Chi đứng cách ta nửa bước, bỗng dúi vào lòng bàn tay ta một viên kẹo gừng nhỏ bọc giấy. Nàng không nhìn ta, chỉ nói rất khẽ: “Ngậm đi. Giọng ngươi mà khàn thêm, lát nữa muốn cãi người lớn cũng chỉ giống vịt mắc mưa.” Ta ngậm viên kẹo, vị cay ngọt lan ra trên đầu lưỡi. Lạ thật, giữa một sân đầy mưa và xác chết, chút cay ấy lại kéo ta từ cảm giác lạnh buốt trở về làm người còn sống. Ta nói: “Nhị thúc nói đúng. Chính vì con còn nhỏ nên càng không thể tự mình định tội ai. Con chỉ xin hỏi ba việc trước mặt tổ phụ và các vị tiên sinh.”

Lục Sùng chống gậy, ánh mắt nặng như đá: “Nói.”

Ta chỉ vào mảnh giấy dầu. “Một, thuốc độc được giấu sẵn trong răng. Một người coi đèn bình thường vì sao có cách chuẩn bị như tử sĩ? Hai, lửa được đặt ở sau ván, dùng lõi gai khô, bấc dầu và than vụn để chống mưa. Đây không phải nhất thời hồ đồ. Ba, Triệu Nhị chọn đúng lúc sổ kiểm và sổ phụ cùng có mặt, đúng lúc mọi người vừa tản sau khảo hạch. Hắn biết thời điểm, biết cửa sau, biết tủ sổ phụ, biết chúng ta đang giữ chứng cứ gì. Một người coi đèn có thể biết một việc; biết hết từng ấy việc thì phía sau hắn phải có người chỉ đường.” Ta không nhìn Lưu quản sự, cũng không nhìn Lục Thừa Viễn. Nhìn ai lúc này đều giống buộc tội, mà ta chưa có đủ sổ để buộc tội. Sổ sách không biết nói dối, nhưng người cầm sổ nếu quá vội, cũng sẽ biến sự thật thành lời đồn.

Sân sau im lặng rất lâu. Lưu quản sự dập đầu đến trán dính bùn: “Gia chủ minh xét, Triệu Nhị coi đèn nhiều năm, đường trong kho hắn đều quen. Tiểu nhân thật không biết hắn bị ai xúi giục. Nếu tiểu công tử nghi tiểu nhân, tiểu nhân nguyện giao chìa khóa kho, giao sổ dầu đèn, chờ tộc đường thẩm vấn.” Ông ta nói đến đây, từ tay áo lấy ra một chùm chìa khóa. Ánh đồng lạnh lẽo lóe lên dưới đèn mưa. Trong chùm chìa ấy có một chiếc khóa nhỏ mép còn sáng mới, rất giống vết đồng quanh ổ tủ sổ phụ mà ta thấy lúc nãy.

Ta vừa định mở miệng, Lục Sùng đã đưa tay ngăn lại. Ông nhìn chùm chìa khóa, nhìn hộp sổ trong tay Tần tiên sinh, rồi nhìn ta. Trong mắt ông không chỉ có giận, còn có một thứ rất khó gọi tên, giống người đứng trước một cánh cửa cũ, biết bên trong có lửa nhưng vẫn sợ mở ra sẽ cháy cả nhà. “Tần tiên sinh niêm phong toàn bộ sổ phụ, sổ kiểm, vật chứng đêm nay. Thi thể Triệu Nhị tạm đặt ở nhà chứa phía đông, chờ sáng báo quan theo lệ nhưng chưa để người ngoài vào kho. Lưu quản sự giao chìa khóa, tạm giữ ở phòng trực, không được rời nội viện.” Ông nói từng câu rất chậm. Ta nghe được sự cẩn thận trong đó, cũng nghe được bức tường vừa dựng lên trước mặt mình.

Quả nhiên, câu cuối cùng của ông hướng về ta: “Lục Hoài Tranh, từ giờ đến khi tộc đường nghị xong, ngươi không được tự ý tra Kho Tây, không được hỏi riêng người kho, không được chạm vào sổ phụ.”

A Bình ngẩng phắt đầu. Thanh Hành cũng nhíu mày: “Tổ phụ!” Lục Sùng chỉ gõ gậy một tiếng, tất cả lời phản đối đều bị ép xuống. Ta nhìn hộp sổ phụ cách mình chưa đầy mấy bước. Đêm nay ta đã suýt bị lửa liếm mặt để cứu nó ra, nhưng giờ nó được khóa lại không phải để tránh kẻ gian, mà để tránh tay ta. Viên kẹo gừng trong miệng tan hết, chỉ còn vị cay hăng nơi cổ họng. Ta cúi người hành lễ, đáp: “Tôn nhi hiểu.”

Ta hiểu. Vấn đề là người lớn thường nhầm giữa hiểu và nghe lời. Lúc quay người rời sân sau, ta thấy mưa đã tạnh hẳn, nhưng nước đọng trên nền vẫn phản chiếu góc kho bị cháy thành một vệt đen dài. Triệu Nhị chết rồi, vật chứng bị niêm phong, sổ phụ bị khóa, còn chữ “Thẩm” nhỏ như hạt bụi kia đã kịp rơi vào lòng ta. Tổ phụ cấm ta tra tiếp. Nhưng từ kho Tây đến tộc đường, từ tộc đường đến gia phả, có những con đường không cần mở cửa cũng có dấu chân để lần theo.