Bỏ qua nội dung

Ánh hào quang của riêng em

Chương 10: Nhà Máy Không Làm Từ Thiện

Chương 10: Nhà Máy Không Làm Từ Thiện

Sáng hôm sau, tôi tỉnh dậy lúc năm giờ bốn mươi ba phút, sớm hơn chuông báo thức mười bảy phút và muộn hơn cảm giác lo lắng của mình khoảng cả một đêm. Tin nhắn của Lâm Tiểu Mộc vẫn nằm trên màn hình điện thoại, ngắn gọn, lạnh lùng, nhưng kỳ lạ là có sức nặng hơn rất nhiều lời động viên. Một người ngoài căn phòng ba mươi mét vuông này đã đồng ý nhìn Tự Quang sinh ra từ thất bại. Vấn đề là, đến lúc ấy tôi mới nhận ra một sự thật không mấy lãng mạn: muốn cho người khác nhìn thấy quá trình sinh ra của một thương hiệu, trước hết nó phải có chỗ để được sản xuất một cách tử tế.

Tôi mở bảng kế hoạch, kéo xuống mục sản xuất thử. Ô ngân sách ở đó đỏ đến mức giống như đang chảy máu. TQ-001 thất bại trong phòng thí nghiệm, TQ-002 có thể sửa bằng tỷ lệ nhũ hóa, chất ổn định và quy trình nhiệt độ, nhưng từ một mẫu trong cốc thí nghiệm đến một lọ kem có thể gửi cho nhóm quan sát là một quãng đường dài hơn rất nhiều so với mấy dòng mô tả trong bản kế hoạch. Bao bì phải tương thích. Quy trình chiết rót phải sạch. Mẫu lưu phải đủ. Hồ sơ nguyên liệu, điều kiện bảo quản, kiểm nghiệm vi sinh, thử ổn định sơ bộ, tất cả đều không thể dùng câu “chúng tôi có lý tưởng” để thay thế. Lý tưởng có thể khiến người ta thức khuya, nhưng không thể tự biến thành dây chuyền sản xuất.

Bảy giờ rưỡi, Thẩm Ngật gửi cho tôi một bảng danh sách năm nhà máy OEM có thể làm lô thử nhỏ. Tin nhắn của anh chỉ có một câu: “Đừng chọn chỗ rẻ nhất.” Tôi nhìn câu đó, bỗng muốn trả lời: “Tôi cũng muốn chọn chỗ tử tế nhất, nếu tài khoản ngân hàng biết cảm thông.” Nhưng cuối cùng tôi chỉ gửi lại: “Gặp ở nhà máy đầu tiên.” Tống Dư Hạ ngồi bên kia bàn, tóc còn kẹp lộn xộn, một tay cầm bánh bao, một tay sửa bản nháp Nhật ký Tự Quang. Nghe tôi đọc địa chỉ, cô ấy chậm rãi ngẩng đầu. “Tớ có cần đi cùng không?” Tôi nói: “Cậu phụ trách truyền thông, nhà máy là phần sản phẩm.” Dư Hạ cười rất nhạt. “Chiêu Ninh, khi một nhà máy đòi cậu đặt cọc đến mức phải bán thận, đó cũng là truyền thông nội bộ của vũ trụ dành cho founder.”

Nhà máy đầu tiên nằm ở ngoại ô Tô Châu, cách Thượng Hải hơn một giờ đi xe. Khu công nghiệp buổi sáng sạch sẽ đến mức lạnh lẽo, từng dãy nhà xưởng màu xám xếp song song dưới bầu trời trắng nhợt. Giám đốc tiếp chúng tôi họ Dương, hơn bốn mươi tuổi, mặc áo sơ mi rất phẳng và có nụ cười của người đã quen từ chối khách hàng bằng giọng lịch sự. Ông ta từng hợp tác với Hứa thị ở giai đoạn đầu, vì vậy khi nhìn thấy tôi, ánh mắt thoáng có một lớp nhận ra. Lớp nhận ra ấy không thân thiết, cũng không ác ý, chỉ giống như người ta nhìn một nhãn hàng từng nằm trên kệ rồi bị thu hồi khỏi thị trường.

Tôi đặt hồ sơ Tự Quang lên bàn, trình bày yêu cầu rất rõ: chúng tôi cần lô thử nhỏ cho sản phẩm phục hồi da nhạy cảm, chưa thương mại hóa, ưu tiên quy trình sạch, hồ sơ truy xuất đầy đủ, chấp nhận thời gian chờ nếu nhà máy có thể hỗ trợ kiểm soát điều kiện sản xuất. Thẩm Ngật bổ sung các điểm kỹ thuật, từ nhiệt độ phối pha đến yêu cầu tránh nhiễm chéo hương liệu. Dư Hạ không nói nhiều, chỉ ngồi bên cạnh ghi chép, thi thoảng nhìn nét mặt đối phương như thể đang phân tích một bài quảng cáo có mùi giả trân.

Giám đốc Dương nghe xong rất chăm chú. Sự chăm chú đó kéo dài đến khi ông ta mở bảng báo giá. “Cô Hứa, nói thật, nếu là trước đây, tôi có thể nể mặt Hứa thị mà sắp cho cô một dây chuyền nhỏ. Nhưng bây giờ tình hình khác rồi.” Ông ta đẩy bảng sang. “MOQ tối thiểu mười nghìn đơn vị. Đặt cọc bảy mươi phần trăm. Bao bì, khuôn nắp và nhãn riêng tính riêng. Vì sản phẩm của cô gắn với nhóm da nhạy cảm, chúng tôi phải tăng phí quản lý rủi ro. Lịch dây chuyền gần nhất là sau ba mươi lăm ngày, nếu muốn chen lịch thì thêm phí khẩn cấp.”

Tôi nhìn con số cuối cùng, cảm thấy cổ họng mình khô đi. Số tiền ấy đủ để Tự Quang sống thêm vài tháng nếu dùng thật tiết kiệm, cũng đủ để chôn nó nếu TQ-002 tiếp tục thất bại. Tôi giữ giọng bình tĩnh. “Chúng tôi chưa cần mười nghìn đơn vị. Lô quan sát kín chỉ cần số lượng nhỏ, mục tiêu là xác nhận quy trình và lấy mẫu kiểm nghiệm, không bán ra thị trường.” Giám đốc Dương lắc đầu, vẻ mặt vẫn ôn hòa. “Dây chuyền không vì cô làm ít mà rửa máy ít hơn, khử khuẩn ít hơn, ghi hồ sơ ít hơn. Nhà máy không làm từ thiện, cô Hứa. Đặc biệt là với một thương hiệu đang mang rủi ro dư luận.”

Bốn chữ rủi ro dư luận rơi xuống bàn họp còn nặng hơn bảng báo giá. Tôi nhìn ông ta. “Ai nói với ông Tự Quang đang mang rủi ro dư luận?” Giám đốc Dương dừng lại một nhịp rất nhỏ. Người làm thương mại lâu năm thường không để lộ sơ hở quá rõ, nhưng một nhịp nhỏ cũng đủ cho tôi biết câu hỏi vừa đâm đúng chỗ. Ông ta cười. “Vụ Hứa thị năm đó cả ngành đều biết. Tôi chỉ nói theo tình hình khách quan.” Dư Hạ đặt bút xuống, giọng mềm như bông nhưng gai bên trong rất rõ. “Kỳ lạ thật. Tự Quang còn chưa có thông cáo, chưa có sản phẩm, thậm chí chưa có website chính thức. Vậy mà tình hình khách quan đã chạy nhanh hơn cả chúng tôi.”

Không khí trong phòng họp lạnh đi một chút. Thẩm Ngật khẽ đẩy kính, không tiếp lời, nhưng bàn tay đặt trên hồ sơ của anh siết lại. Giám đốc Dương đổi sang giọng thỏa hiệp. Ông ta nói nếu chúng tôi không muốn gánh mức đặt cọc cao, có thể đi đường vòng: dùng một công ty thương mại đứng tên, sản xuất dưới nhãn tạm, hồ sơ nội bộ giữ ở mức tối thiểu, miễn sau này kiểm nghiệm đạt thì chuyển sang tên Tự Quang. “Làm thương hiệu mới không cần ngay từ đầu đã cứng như vậy,” ông ta nói. “Thị trường không hỏi cô từng ghi bao nhiêu giấy tờ, chỉ hỏi sản phẩm có bán được không.”

Tôi bỗng nhớ đến Hứa thị trước ngày sụp đổ. Nhớ những bảng hồ sơ bị sửa, những mã lô nguyên liệu bị người ta dùng vài con số để chôn đi trách nhiệm. Một thương hiệu không chết ngay vào ngày nó bị bóc phốt. Nó chết từ khoảnh khắc người bên trong bắt đầu tin rằng có vài dòng giấy tờ không quan trọng, có vài chi tiết có thể để sau, có vài người dùng thật có thể đợi thương hiệu kiếm tiền rồi mới được tôn trọng. Tôi đóng bảng báo giá lại. “Xin lỗi, Tự Quang không dùng công ty khác đứng tên. Không rút gọn hồ sơ. Không làm sản phẩm da nhạy cảm bằng cách giả vờ nguồn gốc không tồn tại.”

Giám đốc Dương nhìn tôi, trong mắt cuối cùng cũng mất hết vẻ khách sáo. “Cô Hứa, cô vẫn giống mẹ cô.” Câu đó khiến nhịp tim tôi khựng lại. Nhưng ông ta không nói tiếp về mẹ, chỉ nhạt giọng thêm: “Có nguyên tắc là chuyện tốt. Nhưng nguyên tắc thường đắt hơn năng lực chi trả.” Tôi đứng dậy, thu hồ sơ vào túi. “Vậy thì tôi sẽ đi tìm nơi có giá rõ ràng hơn. Đắt không sao, mập mờ mới là thứ tôi không trả nổi.”

Ra khỏi nhà máy, gió đầu xuân thổi qua khu công nghiệp, không lạnh đến mức cắt da nhưng đủ làm người ta tỉnh. Dư Hạ đi bên cạnh tôi, im lặng hiếm thấy. Đi được một đoạn, cô ấy mới nói: “Có người gọi trước thật.” Tôi hỏi: “Cậu chắc?” “Chắc tám phần. Ông ta không tò mò về sản phẩm, không hỏi định vị, không hỏi kế hoạch bán. Ông ta chỉ nhấn vào Hứa thị và rủi ro dư luận. Đó không phải phản ứng của nhà máy khi gặp khách mới. Đó là phản ứng của người đã được nhắc phải sợ cái gì.” Thẩm Ngật đứng ở bậc thềm phía sau, giọng thấp hơn bình thường. “Hai nhà máy trong danh sách còn lại vừa trả lời tôi. Một bên nói lịch kín ba tháng, một bên tăng MOQ lên hai mươi nghìn.”

Tôi bật điện thoại xem các tin nhắn mới. Quả nhiên, chỉ trong một buổi sáng, ba cánh cửa vừa hé đã đóng lại theo những lý do rất giống nhau: rủi ro thương hiệu, lịch dây chuyền, số lượng tối thiểu, đặt cọc lớn. Không ai nói thẳng “chúng tôi không muốn dây vào Hứa Chiêu Ninh”, nhưng tất cả đều dùng những con số đủ cao để câu ấy trở nên lịch sự hơn. Tôi cười khẽ. Nụ cười ấy không có vui vẻ, chỉ có một chút mỉa mai dành cho chính mình. Hóa ra trong ngành này, một thương hiệu mới có thể chưa được người tiêu dùng biết tới, nhưng kẻ muốn nó khó sống lại luôn nhận ra rất nhanh.

Buổi chiều, chúng tôi ghé thêm một xưởng nhỏ ở Gia Định. Xưởng đó không đủ tiêu chuẩn cho lô thương mại, nhưng có thể làm mẫu pilot nếu nguyên liệu do chúng tôi tự cung cấp và mọi kiểm nghiệm đều gửi bên thứ ba. Chủ xưởng là một phụ nữ họ Lưu, nói chuyện thẳng hơn giám đốc Dương rất nhiều. Bà xem công thức cơ sở của Thẩm Ngật, hỏi kỹ về chất bảo quản, điều kiện nhiệt, khả năng tách lớp, rồi cuối cùng đặt ra con số vẫn khiến tôi đau dạ dày nhưng ít nhất không làm tôi thấy bị lừa: MOQ ba nghìn, đặt cọc năm mươi phần trăm, toàn bộ hồ sơ sản xuất phải đứng tên Tự Quang, nhưng lịch chỉ còn một khe trống sau mười ngày. “Cô quyết nhanh,” bà nói. “Không phải tôi ép. Nhà máy nhỏ sống bằng lịch. Giữ cho cô một ngày là tôi mất một ngày tiền.”

Trên đường về, trong xe chỉ còn tiếng điều hòa chạy đều đều. Dư Hạ nhìn bảng ngân sách trên máy tính bảng, cau mày đến mức tôi nghi cô ấy sắp dùng ánh mắt để bóp chết các ô màu đỏ. “Nếu chọn xưởng Lưu, sau khi đặt cọc, tiền mặt của chúng ta còn đủ trả phòng làm việc, nguyên liệu và kiểm nghiệm một vòng. Nhưng nếu TQ-002 vẫn tách lớp, chúng ta sẽ bước vào trạng thái cực kỳ thơ mộng.” Tôi hỏi: “Thơ mộng thế nào?” “Tức là nghèo đến mức chỉ còn thơ, không còn mộng.” Thẩm Ngật ngồi ghế trước bỗng nói: “Tôi có thể giảm chi phí R&D cá nhân.” Tôi lập tức ngắt lời: “Không. Anh đã lấy dưới giá thị trường. Tự Quang có thể thiếu tiền, nhưng không thể bắt cộng sự chứng minh lòng trung thành bằng cách tự thiệt.”

Nói xong, tôi mới nhận ra câu ấy cũng là nói với chính mình. Tôi không thể cứ lấy tình nghĩa của Dư Hạ, sự im lặng của Thẩm Ngật, điều kiện quan sát của Lâm Tiểu Mộc và ký ức của mẹ làm vốn lưu động vô hạn. Một thương hiệu muốn sống thì phải trả tiền cho những thứ đáng được trả tiền. Nhà máy không làm từ thiện. Cộng sự cũng không nên làm từ thiện. Ngay cả giấc mơ của tôi, nếu muốn đứng được dưới ánh đèn thật, cũng phải học cách có hóa đơn, hợp đồng và ngày thanh toán.

Tối đó, tôi về phòng làm việc một mình. Dư Hạ bị tôi đuổi đi ngủ, dù trước khi đi cô ấy vẫn để lại một câu rất độc: “Nếu cậu định bán thân cứu thương hiệu thì nhớ báo tớ, tớ sẽ viết thông cáo phản đối trước.” Tôi cười cho qua, nhưng khi căn phòng yên xuống, nụ cười ấy nhanh chóng biến mất. Tôi mở ngăn kéo dưới cùng. Bên trong là một chiếc hộp nhung cũ, góc hộp đã sờn vì tôi mang theo nó qua quá nhiều lần chuyển nhà. Chiếc đồng hồ nữ nằm bên trong không phải hàng xa xỉ đỉnh cấp, nhưng là món quà mẹ tặng tôi năm tôi hai mươi hai tuổi, sau khi tôi hoàn thành dự án sản phẩm đầu tiên ở Hứa thị. Khi ấy mẹ cài đồng hồ lên tay tôi, nói rất nhẹ: “Thời gian của con, đừng để người khác định giá.”

Tôi đã từng nghĩ mình sẽ giữ nó đến rất lâu, như một bằng chứng rằng có một thời tôi cũng được mẹ nhìn bằng ánh mắt tự hào. Nhưng bây giờ tôi cần một khoản đặt cọc, cần lịch dây chuyền, cần một lô mẫu đủ sạch để chứng minh Tự Quang không chỉ là lời tuyên bố trong căn phòng ba mươi mét vuông. Tôi cầm chiếc đồng hồ lên. Kim giây vẫn chạy đều, bình tĩnh đến tàn nhẫn. Mẹ không còn ở đây để ngăn tôi, cũng không còn ở đây để nói tôi có đang làm đúng hay không. Tôi chỉ có thể tự hỏi: giữ một kỷ vật để an ủi mình, hay dùng nó đổi lấy một cơ hội khiến lời hứa của mẹ tiếp tục sống?

Mười giờ mười hai phút, tôi gửi tin nhắn cho chủ xưởng Lưu: “Tôi nhận lịch sau mười ngày. Sáng mai ký hợp đồng. Hồ sơ đứng tên Tự Quang.” Sau đó, tôi mở ứng dụng thẩm định đồ cũ, nhập thông tin chiếc đồng hồ và đặt lịch gặp cửa hàng gần nhất. Nút xác nhận sáng lên trên màn hình, nhỏ đến mức buồn cười, nhưng ngón tay tôi dừng trên đó rất lâu. Cuối cùng, tôi bấm xuống. Không có tiếng sấm, không có nhạc nền, cũng không có ai xuất hiện nói với tôi rằng người mạnh mẽ xứng đáng được cứu. Chỉ có một thông báo lạnh lùng hiện lên: lịch thẩm định của cô đã được xác nhận.

Tôi đặt đồng hồ trở lại hộp, nhưng lần này không khóa ngăn kéo nữa. Ngoài cửa sổ, Thượng Hải vẫn sáng bằng những tòa nhà không quan tâm ai đang phải bán đi thứ gì để mua một cơ hội nhỏ. Tôi nhìn ánh đèn ấy, tự nhiên thấy cổ họng hơi nghẹn. “Mẹ,” tôi nói rất khẽ, “con không bán thời gian của mình. Con chỉ đang mua cho nó một dây chuyền sản xuất.” Điện thoại trên bàn rung lên đúng lúc đó. Trên màn hình là một cái tên tôi không ngờ sẽ xuất hiện vào đêm nay: Lục Hoài Cẩn. Tôi nhìn cuộc gọi đến, nhìn chiếc hộp nhung chưa kịp đóng, rồi chậm rãi nhấn nghe. Giọng anh truyền qua đầu dây, lạnh và rõ như mọi khi: “Cô Hứa, tôi nghe nói cô đang tìm nhà máy.”