Bỏ qua nội dung

Cô Dâu Trong Cơn Dư Luận

Chương 33 - Chương 33: Cha Anh Đã Để Lại Gì

Chương 33: Cha Anh Đã Để Lại Gì

Trong vài giây sau câu nói của Trịnh Hòa, căn gara nhỏ yên đến mức tôi nghe rõ tiếng nước sông vỗ vào mạn phà ngoài xa. Bóng đèn tuýp trên trần chớp nhẹ, kéo gương mặt Hoài Châu thành hai mảng sáng tối rất sâu. Anh không hỏi lại như người không nghe rõ. Anh cũng không nổi giận, không bước tới túm lấy cổ áo người đàn ông trước mặt để buộc ông nói tiếp. Sự im lặng của anh làm tôi khó thở hơn cả một tiếng quát. Tôi đã từng thấy anh lạnh trong phòng họp, lạnh trước cổ đông, lạnh khi truyền thông vây quanh chúng tôi như đàn chim ăn xác. Nhưng cái lạnh lúc này không phải vỏ bọc quyền lực. Nó giống một người vừa chạm tay vào cánh cửa nhà mình và phát hiện phía sau không phải ký ức, mà là một hố sâu.

Trịnh Hòa đặt chiếc phong bì nhựa xuống mặt bàn sắt, nhưng bàn tay ông vẫn giữ mép bì như sợ chỉ cần buông ra, ba năm im lặng sẽ cùng lúc đổ ập lên người ông. Tôi nhìn thấy bên trong không phải bản gốc hồ sơ, mà là một tờ giấy nhận gửi đã ố vàng, một danh thiếp cũ và mấy mảnh ghi chú viết tay. Trên danh thiếp có tên Kỷ Duy Thành, luật sư tư vấn độc lập, văn phòng từng đặt tại khu Tĩnh An. Mép danh thiếp bị gấp, nhưng dấu mực xanh ở góc vẫn còn rõ: hồ sơ 17-KH. Với người ngoài, đó có thể chỉ là một con số vô nghĩa. Với tôi, mọi con số bị giữ lại qua nhiều năm đều có thể là chốt khóa của một câu chuyện từng bị cố ý viết sai.

“Ông nói cha tôi định đưa bà Tần đi gặp luật sư,” Hoài Châu cuối cùng lên tiếng. Giọng anh thấp, đều, nhưng mỗi chữ như phải đi qua rất nhiều lớp đau. “Vì sao lại không đi được?” Trịnh Hòa cúi đầu rất lâu. Ông kể rằng đêm trước buổi họp báo cuối cùng của mẹ tôi, cha Hoài Châu đã yêu cầu ông chuẩn bị một chiếc xe không thuộc đội xe chính thức của Cố gia. Điểm đến là văn phòng của Kỷ Duy Thành. Người đi cùng dự kiến là Tần Uyển, mang theo một bản sao tài liệu bà giữ về hệ thống tài khoản bẩn và các khoản chi quảng cáo bất thường. Nhưng khi xe vừa rời khỏi bãi đỗ phụ, Cố Thừa Viễn xuất hiện cùng hai người của đội an ninh nội bộ. Ông ta không gây ồn ào. Ông ta chỉ nói một câu: nếu chiếc xe đó tiếp tục đi, người bị đưa ra làm kẻ phản bội Cố gia sẽ là cha Hoài Châu, còn Tần Uyển sẽ không còn cơ hội tự bảo vệ mình trước họp báo ngày mai.

Tôi nghe đến đó, các ngón tay tự siết vào nhau. Truyền thông bẩn đáng sợ không chỉ vì nó có thể tạo ra lời nói dối, mà vì nó biết chọn thời điểm khiến người thật không kịp nói. Một cuộc họp báo bị dàn dựng, một chiếc xe bị buộc quay đầu, một cuộc gặp luật sư bị chặn lại trước khi thành thủ tục. Tất cả đều không để lại vết máu ngay lập tức, nhưng đủ để đẩy một người vào nơi không còn đường tự chứng minh. Mẹ tôi đã đứng trước ống kính vào ngày hôm sau với danh nghĩa người bị tố, trong khi lối thoát hợp pháp duy nhất của bà bị cắt ngay trên đường. Tôi tưởng mình đã đau đủ nhiều vì cái chết của mẹ. Hóa ra mỗi lần sự thật mở thêm một lớp, nỗi đau cũ lại có thể học cách sắc hơn.

“Vì sao cha tôi không nói với tôi?” Hoài Châu hỏi. Lần này, câu hỏi không còn hướng hoàn toàn về Trịnh Hòa. Nó giống như anh đang hỏi một người đã khuất. Trịnh Hòa lắc đầu, mắt đỏ nhưng không khóc. “Cậu khi đó còn ở nước ngoài. Cố tiên sinh bảo, trước khi có chứng cứ đủ chắc, kéo cậu vào chỉ khiến cậu thành mục tiêu. Sau buổi họp báo, ông ấy đi tìm luật sư Kỷ một lần nữa. Tôi không được đi cùng. Tôi chỉ biết vài ngày sau, ông ấy đưa cho tôi bản sao phiếu nhận gửi này, dặn nếu có ngày Hứa Gia Mộc bị động tới, hoặc nếu cậu Châu tự tìm đến tôi vì vụ của bà Tần, phải đưa cậu đi tìm luật sư Kỷ.” Ông ngừng lại, khàn giọng hơn. “Tôi đã im lặng quá lâu. Nhưng tối nay xe tải đâm Hứa Gia Mộc, tôi biết bọn họ bắt đầu dọn người sống.”

Tôi không hỏi vì sao ông sợ. Một người từng lái xe cho Cố gia, sống bằng tiền lương của họ, có gia đình, có địa chỉ, có quá khứ nằm trong hồ sơ nhân sự, không cần tưởng tượng nhiều cũng biết cái giá của việc mở miệng. Nhưng hiểu nỗi sợ không có nghĩa xóa trách nhiệm. Tôi đặt tờ giấy nhận gửi vào túi hồ sơ trong suốt mà Lục Nghiên đưa cho tôi lúc ở bệnh viện, dùng điện thoại chụp lại mã hồ sơ, thời gian và hiện trạng vật chứng dưới ánh đèn. Sau đó tôi gửi ảnh cho luật sư phụ trách của Vãn Thanh kèm một dòng: “Nguồn mới, chưa công bố, cần ghi nhận chuỗi chuyển giao nếu tiếp cận bản gốc.” Hoài Châu nhìn động tác của tôi, không ngăn lại. Anh chỉ nói với Trịnh Hòa: “Từ giờ, ông không ở lại đây một mình nữa. Tôi sẽ sắp xếp chỗ an toàn, có luật sư và người bảo vệ nhân chứng tiếp nhận. Nhưng trước khi đi, ông cần gọi cho Kỷ Duy Thành bằng số ông còn giữ.”

Trịnh Hòa nhìn anh rất lâu, như muốn tìm trong người đàn ông trước mặt dáng vẻ của đứa trẻ từng được ông mở cửa xe. Rồi ông lấy từ ngăn kéo ra một chiếc điện thoại cũ, loại chỉ dùng để gọi và nhắn tin. Số của luật sư Kỷ không được lưu bằng tên, chỉ là một dãy số đứng sau chữ “sửa khóa”. Cuộc gọi đầu tiên không ai bắt máy. Cuộc gọi thứ hai vang đến hồi thứ sáu mới có tiếng người già khàn đặc. Trịnh Hòa chỉ nói ba câu: “Tôi là tài xế cũ của Cố Kính Hành. Hồ sơ 17-KH. Cậu Châu đã đến.” Đầu dây bên kia im lặng lâu đến mức tôi tưởng cuộc gọi đã đứt. Sau đó, người đàn ông kia đáp: “Mang phiếu nhận gửi đến văn phòng cũ. Không đi xe của Cố gia. Không gọi thêm bất kỳ ai bằng hệ thống Thịnh Quang.”

Chúng tôi rời bến phà Nam Thương khi trời còn tối sẫm. Trịnh Hòa được một xe pháp lý độc lập đón đi theo tuyến khác, còn tôi và Hoài Châu đến Tĩnh An bằng chiếc xe không logo ban nãy. Trên đường, thành phố vẫn sáng, nhưng ánh sáng ấy không khiến người ta thấy an toàn. Những màn hình quảng cáo ngoài phố chạy lặp lại hình ảnh người nổi tiếng, sản phẩm mới, khẩu hiệu đẹp đẽ về niềm tin và tương lai. Tôi nhìn chúng qua cửa kính và bỗng thấy nghề của mình vừa quen vừa xa lạ. Chúng tôi từng dùng ánh đèn để cứu thương hiệu, cứu danh tiếng, cứu một câu chuyện khỏi bị hiểu sai. Nhưng cũng chính thứ ánh đèn ấy đã từng được người khác dùng để đốt cháy tên mẹ tôi. Hoài Châu ngồi bên cạnh, tay đặt trên đầu gối, không siết lại nhưng cũng không thả lỏng. Tôi biết anh đang cố giữ mình ở trạng thái có thể ra quyết định.

“Cô có muốn tôi dừng lại trước khi mở phong thư không?” anh hỏi bất ngờ. Tôi quay sang. Gương mặt anh phản chiếu trên cửa kính, mệt và trắng hơn bình thường. “Nếu bên trong có thứ khiến Cố gia phải trả giá, đó không chỉ là chuyện của gia đình tôi nữa.” Tôi im lặng một lúc rồi đáp: “Nếu bên trong có tên mẹ tôi, đó cũng không chỉ là chuyện của Cố gia ngay từ đầu.” Nói xong câu đó, tôi mới nhận ra giọng mình không run. Có lẽ con người ta không mạnh lên vì hết đau. Chỉ là khi đau lặp lại đủ nhiều, mình học được cách không để nó cướp mất quyền nói câu tiếp theo. Hoài Châu nhìn tôi, ánh mắt rất sâu. “Tôi sẽ không thay cô quyết định công bố hay không công bố.” Tôi gật đầu. “Vậy đêm nay, anh cũng đừng để người chết thay anh quyết định im lặng.”

Văn phòng cũ của Kỷ Duy Thành nằm trên tầng ba một tòa nhà thấp đã qua thời đẹp nhất. Biển hiệu luật sư được tháo gần hết, chỉ còn vết keo mờ trên tường kính. Người mở cửa cho chúng tôi là một ông lão tóc bạc, mặc áo khoác len bên ngoài sơ mi, tay cầm một tập hồ sơ đã chuẩn bị sẵn. Ông không tỏ ra bất ngờ khi thấy tôi. Sau khi kiểm tra giấy tờ tùy thân của Hoài Châu, đối chiếu phiếu nhận gửi và yêu cầu chúng tôi ký vào biên bản tiếp xúc, ông bật một máy quay nhỏ đặt trên kệ sách. “Tôi không giao bất kỳ thứ gì ngoài quy trình,” ông nói. “Cố Kính Hành đã trả phí lưu giữ tài liệu trong mười năm, kèm điều kiện: chỉ giao cho Cố Hoài Châu khi anh ta chủ động tìm đến vì vụ Tần Uyển, và nếu có người thân trực hệ của bà Tần ở đó, người ấy có quyền chứng kiến phần tài liệu nhắc đến bà.”

Cái tên mẹ tôi được nói ra trong căn phòng lạ, vào gần ba giờ sáng, bởi một người tôi chưa từng gặp. Tôi đứng yên, cảm giác như có ai đó vừa đặt tay lên vết thương cũ nhưng không ấn xuống, chỉ xác nhận nó thật sự tồn tại. Luật sư Kỷ mở két sắt âm tường, lấy ra một phong thư màu nâu bọc lớp chống ẩm, mép dán sáp đã khô nhưng dấu niêm phong còn nguyên. Trên mặt phong thư có chữ ký của cha Hoài Châu, ngày tháng cách đây ba năm, và dòng ghi chú ngắn: “Không mở nếu người nhận chưa sẵn sàng đứng ngoài lợi ích Cố gia.” Hoài Châu nhìn dòng chữ ấy rất lâu. Tôi không chen vào. Đây là khoảnh khắc anh phải tự bước qua ranh giới của mình, như tôi từng phải tự bước qua phòng họp đầy người để nói mẹ tôi không phải hung thủ.

Luật sư Kỷ đặt phong thư trước mặt anh. “Một khi mở, tôi sẽ lập biên bản tài liệu đã được bàn giao. Từ thời điểm đó, anh không thể nói mình không biết.” Hoài Châu đưa tay chạm vào dấu sáp. Trong một thoáng, tôi tưởng anh sẽ dừng lại. Không phải vì anh hèn nhát, mà vì có những sự thật không chỉ giết chết một lời nói dối, nó còn buộc người sống phải chôn lại hình ảnh cuối cùng về cha mình. Nhưng anh chỉ khẽ hít một hơi, rồi dùng dao rọc giấy cắt mép phong thư theo đường luật sư Kỷ chỉ. Bên trong là một lá thư viết tay, một bản ghi nhớ cuộc gặp chưa hoàn tất và một danh mục tài liệu được đánh số. Hoài Châu không đọc ngay. Anh xoay lá thư về phía tôi trước, như một lời cho phép không cần nói thành tiếng.

Tôi nhìn xuống trang giấy đầu tiên. Nét chữ của cha anh nghiêng nhẹ, từng dòng ổn định đến kỳ lạ, như thể người viết đã chuẩn bị cho ngày một người khác phải đọc nó trong đau đớn. Dòng mở đầu không nhắc đến Cố gia, cũng không nhắc đến cổ phần hay quyền thừa kế. Nó chỉ có một cái tên. Tần Uyển. Tim tôi khựng lại. Ngay dưới cái tên ấy là câu tiếp theo, ngắn đến tàn nhẫn: “Nếu con đọc được bức thư này, nghĩa là cha đã không kịp đưa bà ấy đến nơi bà ấy đáng lẽ phải được bảo vệ.”