Bỏ qua nội dung

Bàn Tính Dưới Hoa Đăng

Chương 74 - Chương 74: Bàn Tính Ngọc

Chương 74: Bàn Tính Ngọc

Ta nói chuẩn bị người, nhưng người đầu tiên muốn giữ ta lại chính là A Mộc. Hắn vừa thở vừa nhìn ra ngoài dây niêm, giọng hạ thấp đến mức gần như bị tiếng mưa nuốt mất: “Thiếu chủ, lệnh kinh thành vừa đọc xong, ngài bước ra khỏi kho cũ lúc này, Thẩm Kính chỉ cần một câu là có thể khóa ngài.” Ta gấp mảnh vải buồm cháy sém lại, đặt vào tay áo. Trên đầu ngón tay vẫn còn mùi khét và bùn lạnh. “Hắn khóa ta ở Thanh Châu, không khóa ta ở trong gian kho này. Thạch Kiều cũng thuộc Thanh Châu.” A Mộc ngẩn ra. Ta nhìn hắn, nói tiếp: “Nếu chúng ta đi đánh thuyền quan, đó là chống lệnh. Nếu chúng ta đi kiểm đê cứu người trong đêm lũ, ai cản mới là kẻ lấy mạng dân làm trò.”

Lục Thanh Hành muốn đứng dậy, nhưng vết thương kéo hắn ngồi sụp xuống ghế. Ta đè áo tơi xuống trước mặt hắn. “Huynh ở lại kho cũ. Nếu Thẩm Kính hỏi, cứ nói ta đi xem mực nước Thạch Kiều theo biên cứu tế.” Hắn nhìn ta một lúc, rồi mắng khẽ: “Đồ tính toán.” Mắng xong, hắn kéo hòm sổ đến bên đèn, tự mình giữ cửa.

Trước khi ra khỏi kho, ta quay lại nhìn khoảng bàn trống nơi bàn tính ngọc từng nằm. Vật đã bị Thẩm Kính thu đi, nhưng không phải mọi thứ trong một chiếc bàn tính đều có thể bị cất vào hòm quan. Lúc lập danh mục, ai cũng nhìn mảnh bản đồ dầu và góc bị xé, còn ta nhìn những hạt ngọc. Mấy hạt trên ba thanh không nằm sát nhau như bàn tính bình thường; chúng bị đẩy lệch, giữa kẽ hạt có vệt chu sa mỏng đến mức nếu không nghiêng dưới đèn sẽ tưởng là vết bẩn. Mẫu thân không chỉ giấu bản đồ trong lòng bàn tính. Bà còn dùng bàn tính để dạy người còn sống cách đọc bản đồ ấy.

Ta lấy bản chép vội của A Mộc ra. Ba hàng số vẫn rõ: ba, một, bốn; hai, ba, một; năm, không, hai. Nếu xem đó là số bạc, vô nghĩa. Nếu đặt lên bản đồ nước Thanh Châu, chúng lại là số cọc, số nhịp cầu, số cửa thoát nước. Bến Nam là điểm khởi, Đông khố là điểm giấu sổ, còn Thạch Kiều là nơi chuyển tay. Mảnh góc bị xé có thể lấy mất dấu giám vận, nhưng không lấy được cách mẫu thân sắp hạt ngọc trước khi chết.

Chúng ta rời kho cũ bằng cổng phụ. Không mang đao sáng, không mặc áo gia binh, chỉ mang dây chão, đèn gió, bao cát và hai xe ván. Người ngoài nhìn vào sẽ thấy một đội cứu đê lôi thôi, bùn bắn đến tận gối. Đi được nửa phố, quan sai chặn lại. Ta đưa biên cứu tế có dấu lý trưởng ra trước. “Thạch Kiều nước dâng. Nếu cầu sập, ba xóm hạ lưu bị cuốn. Các vị muốn ngăn, xin ký tên ở đây.” Quan sai nhìn nhau. Không ai muốn ký vào một tờ giấy có thể biến thành tội lấy mạng dân sau lũ. Cuối cùng họ nhường đường, nhưng phái hai người đi theo. Ta để họ đi. Có nhân chứng quan phủ đi cùng, đường đêm bỗng sạch hơn vài phần.

Mưa đã nhỏ lại, nhưng nước dưới Thạch Kiều cuộn đục như có ai khuấy cả đáy sông lên. Cầu chỉ có năm nhịp đá, lan can rêu phủ trơn đến mức bước lên phải bám dây. Ta bảo người dựng đèn ở hai đầu cầu, cắm cọc đo mực nước, lại cho dân phu thả dây chão ngang khúc nước xiết. A Mộc hỏi nhỏ: “Chúng ta thật sự vá đê à?” Ta đáp: “Thật. Nếu đê vỡ, chứng cứ cũng trôi.”

Giờ Tý vừa qua, tiếng mái chèo vang lên từ thượng lưu. Không phải tiếng thuyền dân. Thuyền dân qua nước xiết thường chèo ngập ngừng, còn chiếc thuyền này đi thẳng, nhịp chèo đều, người cầm lái rất quen dòng. Đèn trên thuyền bị che bằng vải dầu, chỉ để lọt một vệt sáng mảnh. Khi nó đến gần nhịp thứ ba, dây chão ta cho thả xuống căng lên. Người trên thuyền quát: “Ai dám chắn thuyền quan?” Ta đứng dưới mái cầu, áo tơi nhỏ nước từng giọt, đáp: “Nước xiết, cọc đê gãy, thuyền nào qua cũng phải chậm. Nếu quan gia muốn đâm vỡ cầu, xin nói rõ để dân hai bờ nghe.”

Mấy dân phu cầm đèn lập tức bước lên, ánh sáng chiếu thẳng vào mũi thuyền. Trên khoang có hai hòm sắt phủ bạt, cạnh hòm là ba người bị trùm đầu, tay bị trói bằng dây vải chứ không phải xích phạm nhân. Dây vải ấy làm ta nhìn lâu hơn. Phạm nhân thật bị chuyển gấp sẽ bị khóa cho chắc, còn người bị trùm bằng vải thường là để không ai nhận ra mặt. Viên áp thuyền rút lệnh bài, giọng cứng lại: “Nghi phạm do nha môn áp giải, Lục Hoài Tranh, ngươi muốn cướp người?” Ta chỉ vào cọc nước: “Ta muốn giữ cầu. Còn nếu trên thuyền có người, theo lệnh chính các vị vừa đọc ở kho cũ, chuyển người phải lập biên, mạch trạng và tên người nhận. Ba người này có tên không?”

Hắn không đáp ngay. Khoảng im lặng ấy đủ để dân hai bờ nghe thấy tiếng nước va vào mạn thuyền. Ta ra hiệu cho A Mộc. Hắn nâng đèn chiếu vào mép hòm sắt. Trên lớp bạt ướt có vết nửa đồng tiền in bằng sơn đen, cùng kiểu với mảnh vải buồm cháy sém. Ta nói: “Hòm sắt quan phủ chuyển trong đêm, không chở lương, không lập danh mục, lại đi đúng tuyến bản đồ trong bàn tính ngọc. Các vị muốn ta tin đây là trùng hợp?” Viên áp thuyền siết chuôi đao. Hai quan sai đi theo ta lúc nãy lùi nửa bước, nhưng vì dân phu đã đứng quanh, họ không thể giả vờ không nghe.

Đúng lúc ấy, một trong ba người bị trùm đầu ho sặc. Tiếng ho già, nặng, kéo theo tiếng thở như bễ rách. Ta bước lên một bước. Viên áp thuyền lập tức chắn lại. Ta không ép nữa, chỉ nói với hai quan sai phía sau: “Ghi vào biên cứu đê: giờ Tý một khắc, tại Thạch Kiều, thuyền quan hướng Đông khố, trên thuyền có hai hòm sắt dấu nửa đồng tiền và ba người trùm đầu không công bố danh tính. Nếu sau này ba người ấy chết không tên, đêm nay các vị đã thấy họ còn sống.”

Viên áp thuyền hiểu điều ấy. Sắc mặt hắn tối xuống, nhưng cuối cùng chỉ hạ giọng: “Thu dây.” Ta nhìn nước dưới cầu. Theo bản chép bàn tính, nhịp thứ ba không phải nơi chặn thuyền, mà là nơi giấu vật. Ta để thuyền qua nửa thân, rồi ra hiệu cho dân phu kéo dây về phía cọc đá. Dây chão quấn qua chân cầu, làm dòng nước đổi hướng trong chớp mắt. Bùn dưới nhịp đá bị xới lên, một ống trúc bọc sáp mắc trong hốc thoát nước lộ ra, va cạch vào mỏm đá. A Mộc nhanh tay móc lấy, còn ta lập tức đứng che trước hắn. Thuyền quan đã đi qua, người trên thuyền chỉ thấy chúng ta kéo dây cứu cọc. Có những lúc chứng cứ không cần cướp từ tay người khác; chỉ cần đến đúng nơi trước khi nước cuốn nó đi.

Ống trúc không lớn, lớp sáp bên ngoài đã đen vì bùn. Ta không mở ngay trên cầu, mà mang về lều vá đê, trước mặt lý trưởng xóm Thạch Kiều và hai quan sai đi theo. Mọi thứ đã đến nước này, càng nhiều mắt càng tốt. Khi sáp bị hơ mềm, bên trong rơi ra một mảnh lụa dầu cuộn chặt và một hạt ngọc nhỏ. Hạt ấy không trong như hạt trên bàn tính bị thu, mà có một vết nứt đỏ ở giữa. Ta đặt nó lên lòng bàn tay, cảm giác lạnh chạy thẳng vào xương. Đây là hạt mất khỏi bàn tính ngọc. Mẫu thân đã bẻ nó ra, giấu một nửa trong bàn tính, một nửa dưới Thạch Kiều, như để nói với người đời sau rằng bản đồ và tuyến nước phải khớp nhau mới thành chứng.

Mảnh lụa dầu chỉ có mấy dòng chữ, nhưng ta đọc đến dòng thứ hai thì cổ họng nghẹn lại. Bính Thân, đêm mười bảy, quân lương qua Thạch Kiều, chuyển sang thuyền không số. Người áp vận họ Thẩm. Người phụ kiểm họ Lục. Ba phu vận lương trúng độc, được đưa vào Tạ gia y quán trước canh năm. Phía dưới là một vết ấn mờ, không phải quan ấn, mà là dấu hiệu y quán: một nhành đăng tâm thảo rất nhỏ. Chữ của mẫu thân không kêu oan, không nguyền rủa, thậm chí không viết tên mình. Bà chỉ ghi đường đi, người thấy, người bệnh, như một người làm sổ đến phút cuối vẫn tin rằng sự thật chỉ cần đủ cột mục thì sẽ tự đứng thẳng.

Ta nhìn dấu đăng tâm thảo, nhớ đến Tạ Vân Chi đứng trước lều bệnh, tay áo dính mùi thuốc mà vẫn cười với Thẩm Kính. Mười mấy năm trước, có lẽ Tạ Hành Chu cũng từng đứng trong một đêm mưa như thế, giữa người bệnh và đao quan, rồi chọn im lặng để giữ con gái còn trong tã. Ta từng oán sự im lặng ấy. Đến giờ vẫn oán. Nhưng oán không thể thay lời khai. Mảnh lụa này chứng minh có người được đưa vào Tạ gia y quán; nó không chứng minh Tạ Hành Chu đã thấy ai áp giải, ai hạ độc, ai buộc Tô Diên mang tội thông địch. Mắt xích cuối cùng vẫn nằm trong miệng một người còn sống.

A Mộc hỏi khẽ: “Thiếu chủ, có đuổi theo thuyền nữa không?” Ta cuộn mảnh lụa dầu lại, đặt hạt ngọc nứt bên cạnh, rồi nhìn về phía hạ lưu. Thuyền quan đã khuất trong màn mưa mỏng, nhưng lần này nó không mang hết bóng tối đi được. “Không đuổi. Đuổi là cướp người. Ghi biên, giữ nhân chứng, gửi một bản cho sứ giả kinh thành, một bản cho kho cũ.” Ta dừng lại, ngón tay đặt lên hạt ngọc lạnh. “Còn ta đến Tạ gia y quán.” A Mộc biến sắc: “Bây giờ?” Ta gật đầu. “Bây giờ. Trước khi Thẩm Kính nhận ra bàn tính ngọc không chỉ có một chiếc miệng để mở.”

Gần hết canh ba, đèn trước y quán Tạ gia vẫn còn sáng. Ta đứng dưới mái hiên, nghe tiếng thuốc sôi trong sân sau, và lần đầu tiên trong nhiều ngày cảm thấy tay mình hơi run. Không phải vì sợ Thẩm Kính. Là vì sau cánh cửa này, có người từng cứu mẫu thân ta một nửa, bỏ rơi bà một nửa, và giữ im lặng đủ lâu để Vân Chi lớn lên trong món nợ không do nàng chọn. Ta gõ cửa. Trong bóng đèn, Tạ Hành Chu mở cửa, tóc bạc hơn ta nhớ. Ông nhìn hạt ngọc nứt trong tay ta, sắc mặt trắng đi. Ta nói: “Tạ bá phụ, bàn tính của mẫu thân ta còn thiếu một lời chứng. Đêm nay, xin ông trả nó về đúng chỗ.”