Bỏ qua nội dung

Bàn Tính Dưới Hoa Đăng

Chương 75: Người Nợ Một Lời Khai

Chương 75: Người Nợ Một Lời Khai

Tạ Hành Chu không mời ta vào ngay. Ông đứng dưới ngọn đèn dầu treo lệch trước cửa, mắt dừng trên hạt ngọc nứt trong lòng bàn tay ta lâu đến mức giọt mưa từ mái hiên rơi xuống mu bàn tay ông cũng không làm ông chớp mắt. Ta từng nghĩ mình sẽ giận dữ hơn khi gặp lại ông trong khoảnh khắc này, sẽ chất vấn, sẽ ép ông quỳ trước tên mẫu thân ta mà nói hết những điều đã giấu. Nhưng đêm quá lạnh, hạt ngọc trong tay quá lạnh, còn người trước mặt ta lại già đi như thể chỉ trong một canh giờ vừa rồi tóc bạc đã mọc thêm một lớp. Cuối cùng, ông tránh sang bên, giọng khàn: “Vào đi. Đứng ngoài này, lời người chết cũng bị gió thổi tản.”

Ta bước qua ngưỡng cửa y quán. Mùi thuốc quen thuộc ập tới, đăng tâm thảo, cam thảo, vỏ quýt phơi, dưới đó là mùi mưa bùn bám ở gấu áo ta. Tạ Hành Chu đóng cửa, nhưng ta đưa tay chặn lại một nhịp. A Mộc hiểu ý, đứng ngay ngoài hiên, không vào phòng nhưng đủ gần để nghe tiếng động. Ta không còn tin bất kỳ cuộc nói chuyện nào chỉ có hai người. Một lời khai nếu sinh ra trong bóng tối thì rất dễ chết trong bóng tối. Tạ Hành Chu nhìn động tác ấy, khóe miệng hơi run, không biết là cười khổ hay thở dài. “Ngươi giống mẹ ngươi ở điểm này. Bà ấy cũng sợ mọi thứ không được ghi lại.”

Câu ấy đâm vào ta còn nhanh hơn dao. Ta đặt hạt ngọc nứt và mảnh lụa dầu lên bàn khám bệnh, từng thứ cách nhau một gang tay. “Vậy xin Tạ bá phụ nói từ chỗ có thể ghi được. Đêm Bính Thân mười bảy, ba phu vận lương trúng độc được đưa vào đây. Ai đưa họ tới?” Tạ Hành Chu không đáp ngay. Ông đi đến tủ thuốc, mở ngăn dưới cùng, lấy ra một hộp gỗ nhỏ đã mốc ở mép. Khóa hộp không dùng chìa, mà dùng dây đồng quấn ba vòng. Người làm thuốc cẩn thận với độc dược thế nào, người có tội cũng cẩn thận với ký ức thế ấy. Khi dây đồng được tháo ra, bên trong không có vàng bạc, chỉ có một mảnh giấy mạch cũ, ố vàng đến mức chạm mạnh sẽ vụn.

“Không phải ba người.” Ông nói rất nhỏ. “Đêm ấy có bốn người được đưa vào y quán. Ba phu vận lương trúng độc, người thứ tư là Tô phu nhân.” Ta nghe tiếng mưa ngoài hiên đột nhiên rõ hơn. Trong rất nhiều năm, mẫu thân trong miệng người khác chỉ là một cái tên gắn với tội danh, lúc thì phản phụ, lúc thì thông địch, lúc thì tai họa của Lục gia. Rất ít người nói bà từng là một người còn sống, từng được đưa vào y quán, từng có mạch đập yếu đến mức một đại phu phải cúi sát cổ tay mới biết bà chưa chết. Ta ép lòng bàn tay xuống mép bàn, để mình không hỏi câu vô ích nhất: vì sao khi đó ông không cứu bà đến cùng.

Tạ Hành Chu như biết ta đang nghĩ gì. Ông kéo ghế ngồi xuống đối diện, lưng cong hơn thường ngày. “Ba phu vận lương bị độc không giống độc giết người ngay. Trước là rét, sau là tê lưỡi, đến canh ba thì mê man. Kẻ hạ độc muốn họ còn đủ hơi để bị hỏi, nhưng không đủ tỉnh để nói trọn. Người áp họ tới mặc áo nha sai, nhưng cổ tay có dấu dây da của quân áp vận. Ta nhìn thấy một người đứng ngoài cửa, che ô đen, giày sạch không dính bùn dù ngoài đường lầy như ao. Hắn không vào, chỉ nói một câu: ghi là phong hàn sau lũ.”

“Thẩm Kính?” Ta hỏi. Tạ Hành Chu nhắm mắt. “Khi đó hắn chưa là người mà dân Thanh Châu gọi là thanh liêm. Nhưng ta biết mặt hắn. Hắn từng đến mua dược liệu cầm máu cho đội áp vận. Ta không dám ghi tên.” Ông mở mắt, ánh nhìn rơi xuống tờ mạch cũ. “Tô phu nhân tỉnh trước khi trời sáng. Bà ấy không cầu ta cứu mạng, chỉ hỏi ba người kia có ai còn nói được không. Người thứ ba tỉnh một lúc, nói bốn chữ: miếu cũ cửa đông. Sau đó hắn cắn lưỡi, không phải tự sát, mà là để giữ mình khỏi nói tiếp khi người của Thẩm Kính quay lại.”

Miếu cũ cửa đông. Ta ghi bốn chữ ấy vào trong lòng như đặt một viên đá xuống bàn tính. Vị trí này chưa từng xuất hiện trên mảnh bản đồ dầu, nhưng nếu Thạch Kiều là nơi chuyển tay, Đông khố là nơi giấu sổ, thì một miếu hoang ngoài cửa đông chính là nơi thích hợp nhất để nhốt người tạm thời trước khi đưa ra khỏi thành. Mẫu thân không ghi, có lẽ vì bà không kịp. Hoặc bà đã kịp, nhưng phần ấy nằm trong miệng một người còn sống, người đã im lặng suốt mười mấy năm trước mặt ta.

Ta hỏi: “Vì sao ông đổi mạch án?” Tạ Hành Chu cười một tiếng rất khẽ, khàn đến mức không giống cười. “Vân Chi khi đó mới đầy tháng. Người của Thẩm Kính không chạm vào y quán. Họ chỉ đặt một chiếc khóa bạc của trẻ nhỏ lên quầy thuốc, hỏi ta trẻ con bị sặc sữa nên dùng phương gì. Ta làm đại phu nửa đời, chỉ một câu ấy đã hiểu.” Ông ngẩng đầu nhìn ta, trong mắt không có lời xin tha. “Ta giấu Tô phu nhân đến gần canh năm. Nhưng bà ấy biết ở lại sẽ kéo cả y quán chết. Bà ấy lấy một hạt ngọc từ bàn tính, giao cho ta nửa câu: nếu Lục gia còn người chịu đếm lại sổ cũ, đưa nó về Thạch Kiều. Sau đó bà tự đi. Ta không giữ bà.”

Cơn giận trong ta không bùng lên như lửa. Nó chìm xuống, nặng và đặc, giống nước lũ âm thầm ép vào chân đê. Ta từng mong có một thủ phạm rõ ràng để hận cho dễ, nhưng đời này rất hiếm khi tốt bụng như vậy. Có kẻ cầm dao, có kẻ mở cửa, cũng có kẻ đứng bên giường bệnh, bàn tay run đến mức không giữ nổi một người nên giữ. Tạ Hành Chu không vô tội. Nhưng nếu đêm ấy ông chọn chết cùng mẫu thân ta, Vân Chi có lẽ đã không sống đến ngày đem bánh quế vào từ đường cho một đứa trẻ bị cả nhà bỏ quên. Nghĩ đến đó, ta bỗng ghét chính sự tỉnh táo của mình.

Cửa sau y quán vang lên tiếng then gỗ. Tạ Vân Chi bước vào, áo choàng ướt một nửa, tóc mai dính bên má, trong tay còn xách túi thuốc cứu thương. Nàng nhìn ta, rồi nhìn phụ thân, cuối cùng dừng lại trên hạt ngọc nứt đặt giữa bàn. Nét cười thường ngày không xuất hiện. Nàng chỉ hỏi: “Cha, lần này người còn định để con đứng ngoài cửa sao?” Tạ Hành Chu bật dậy như bị kim châm. “Vân Chi, con về phòng.” Nàng không nhúc nhích. “Con vừa đưa Mạnh Cửu đổi sang nơi an toàn. Người của nha môn đang lục từng nhà bệnh nhân cũ của Tạ gia. Con không còn là đứa trẻ trong nôi để người khác đặt khóa bạc dọa cha nữa.”

Ta nhìn nàng, cổ họng bỗng nghẹn một nhịp. Đêm nay người nợ lời khai không chỉ có Tạ Hành Chu. Ta cũng nợ nàng một lời không giấu. Nhưng nói ra lúc này chỉ làm mọi thứ mềm đi, mà chúng ta đang đứng trên mặt băng mỏng, mềm một tấc là chìm một tấc. Tạ Vân Chi đi đến bên bàn, cầm tờ mạch cũ lên. Tay nàng rất vững. “Ba người trúng độc, một người nói miếu cũ cửa đông. Cha đã giữ tờ này mười mấy năm, tức là cha chưa bao giờ thật sự quên. Vậy hôm nay nói đi. Nói trước khi người khác bắt cha im lần nữa.”

Tạ Hành Chu nhìn con gái rất lâu. Một người cha sợ hãi mười mấy năm không thể vì một câu mà biến thành anh hùng, nhưng có những lúc con người không cần anh hùng, chỉ cần đừng lùi thêm nữa. Ông chậm rãi quỳ xuống trước bàn, không quỳ với ta, cũng không quỳ với Vân Chi, mà quỳ trước hạt ngọc nứt. “Tô phu nhân, Tạ Hành Chu nợ người một lần mở cửa, hôm nay trả bằng lời này.” Ông lấy giấy sạch, chấm mực. Ta ngồi xuống đối diện, giọng bình tĩnh đến mức chính ta cũng thấy xa lạ: “Không viết sám hối. Viết lời chứng. Giờ nào, người nào, bệnh trạng nào, ai ép ông đổi mạch án, ai đe dọa Tạ gia. Cảm xúc không cứu được người chết, chứng cứ mới có thể.”

Bút của ông run ở chữ đầu tiên, rồi dần ổn lại. Ta để A Mộc vào làm người chép phụ, Vân Chi tự tay mài mực, còn ta hỏi từng câu như kiểm một bản sổ kho: độc phát lúc nào, mạch tượng ra sao, người thứ ba nói gì, Thẩm Kính đứng ở vị trí nào, chiếc khóa bạc đặt trên quầy thuốc do ai mang tới. Mỗi câu trả lời đều được viết thành hai bản. Một bản do Tạ Hành Chu ký tên ấn dấu tay, một bản do A Mộc chép để lập tức gửi về kho cũ cho Lục Thanh Hành. Khi dấu tay đỏ in xuống giấy, ta biết bàn tính của mẫu thân cuối cùng đã có thêm một hạt trở về đúng vị trí của nó. Nhưng cũng đúng lúc ấy, ngoài phố vang lên tiếng vó ngựa dừng gấp.

A Mộc quay phắt ra cửa. Ta đứng dậy, kéo Vân Chi lùi nửa bước theo bản năng. Một tiểu đồng y quán chạy từ sân trước vào, mặt trắng bệch: “Lão gia, ngoài cửa có người bị thương nặng, nói là từ chỗ Mạnh Cửu chạy ra. Hắn cầm tín vật của cô nương.” Tạ Vân Chi lập tức sờ tay áo. Chiếc túi vải nhỏ nàng vẫn dùng để đựng kim bạc đã mất. Mắt nàng tối lại. Ta hiểu ngay. Thẩm Kính không cần biết toàn bộ lời khai đã viết đến đâu; hắn chỉ cần biết người sẽ khai đang ở y quán. Dùng bệnh nhân làm mồi đối với hắn còn sạch tay hơn dùng đao.

Ta giữ cổ tay Tạ Hành Chu. “Không ra một mình.” Ông nhìn bàn tay ta, rồi nhìn Vân Chi. Trong khoảnh khắc ấy, ta thấy nỗi sợ cũ trong ông trỗi dậy, nhưng lần này nó không đẩy ông lùi vào im lặng. Ông gỡ tay ta ra, nhét bản lời khai đã ký vào tay Vân Chi. “Con giữ nó. Nếu cha không về, đưa cho sứ giả kinh thành.” Tạ Vân Chi lắc đầu, giọng khàn: “Cha.” Ông chỉ nói: “Lần này cha đi ra cửa, không phải để bỏ ai lại.” Nói xong, ông bước ra sân trước nhanh hơn tuổi tác của mình. Ta và A Mộc lập tức đuổi theo, nhưng mới qua bình phong đã có một làn khói cay nồng nổ tung từ phía quầy thuốc. Đăng tâm thảo cháy có mùi rất nhẹ; thứ này lại hắc, làm mắt người lập tức chảy nước.

Khi ta lao ra được đến mái hiên, cánh cửa lớn y quán đã mở toang. Trên nền đá chỉ còn một vệt máu kéo qua bậc cửa, chiếc đèn gió bị giẫm vỡ, và mảnh giấy nhỏ ghim bằng dao mổ của Tạ gia. Ta nhặt nó lên. Trên giấy không có nhiều chữ, chỉ có dấu nửa đồng tiền đen và bốn chữ vừa được moi từ quá khứ ra: miếu cũ cửa đông. Tạ Vân Chi đứng sau ta, tay vẫn siết bản lời khai còn ướt dấu son, môi trắng đến không còn chút máu. Ta nhìn màn mưa ngoài phố, lần đầu tiên trong đêm ấy thật sự rút đao. “A Mộc, về kho báo Thanh Hành. Vân Chi, giữ lời khai. Còn ta đi đòi người sống.”