Chương 53: Gia Phả Bị Sửa
Ủng hộ Lăng Kính Truyện
Mở ưu đãi một lần để tiếp tục đọc. Thông báo này chỉ hiện lại sau 4 giờ.
Mở ưu đãi và tiếp tục đọcChương 53: Gia Phả Bị Sửa
Xe ngựa rời Tạ gia y quán khi nước mưa trên mái hiên còn nhỏ từng giọt xuống bậc đá. Ta ngồi trong xe, trước mặt là mảnh thư cháy cạnh đã được kẹp giữa hai lớp giấy dầu, bên cạnh là chiếc bàn tính của mẫu thân. Thanh Hành cưỡi ngựa ngoài rèm, thỉnh thoảng quay đầu nhìn vào như muốn hỏi ta có chắc phải đi ngay không. Ta không trách hắn. Người bình thường sau một đêm biết cha của người mình thương từng buông tay trước cái chết của mẹ mình, sáng ra lại suýt mất chứng cứ, lẽ ra nên tìm một chỗ yên tĩnh để thở. Nhưng những kẻ sửa gia phả thường không chờ người khác thở xong mới ra tay. Trong chuyện gia tộc, chậm một bước không phải mất cơ hội, mà là mất luôn quyền được hỏi.
Đến ngã rẽ phía bắc, Mạnh Tứ đuổi theo đưa một hộp tre nhỏ. Hắn nói Tạ cô nương bảo mảnh thư đã bị lửa ăn, đặt trong hộp tre có thanh giữ sẽ đỡ vụn. Hắn nói xong thì cúi đầu, dáng vẻ như sợ ta nghe hai chữ Tạ cô nương cũng đau. Ta nhận hộp tre, chỉ đáp một tiếng. Bên trong lót vải mềm, còn kẹp một gói bột hút ẩm của y quán. Nàng không viết thư, không nhắn lời. Việc ấy ngược lại giống nàng hơn. Khi lòng người còn rối, một câu an ủi dễ thành dây kéo, một việc hữu dụng mới là thứ có thể đặt lên bàn mà không ép ai phải lập tức tha thứ.
Trang tử phía bắc cách Lục phủ hơn hai canh giờ đường xe. Đó là nơi nuôi ngựa già, chứa lương phụ và để những người hầu cũ không còn dùng được trong phủ dưỡng lão. Nói là dưỡng lão, thật ra chẳng khác một ngăn kéo bị đẩy vào góc tủ. Người còn sống, nhưng tên tuổi đã được xếp khỏi sổ dùng hằng ngày. Quản sự trang tử họ Tiền ra đón chúng ta, mặt đầy vẻ kinh ngạc đã được luyện qua. Người biết giả ngạc nhiên thường đáng nghi hơn người thật sự hoảng, vì hắn còn nhớ phải diễn cho đúng lễ.
Ta không xuống xe ngay. Thanh Hành đã thay ta hỏi: “Đỗ quản gia đâu?” Tiền quản sự chắp tay: “Đỗ lão bệnh lâu, mấy hôm nay ho nhiều, đang ở viện sau nghỉ ngơi. Đại công tử, Lục công tử đi đường xa, chi bằng vào uống chén trà trước.” Thanh Hành nhìn ta. Ta gõ nhẹ một hạt bàn tính. “Không uống trà. Mang sổ cấp thuốc tháng này và sổ người ra vào trang tử ba ngày gần đây tới.” Tiền quản sự khựng lại rất ngắn, ngắn đến mức nếu không nhìn kỹ, sẽ tưởng hắn chỉ bị gió lạnh làm nghẹn. Nhưng người quản sổ khi nghe hai chữ sổ sách mà khựng lại, thường không phải vì kính sợ giấy bút.
Sổ cấp thuốc được đưa tới khá nhanh. Ta lật từng trang, thấy tên Đỗ Trường Tín mỗi tháng đều lĩnh thuốc dưỡng phế, than bạc, gạo mềm, thậm chí còn có hai khoản nhân sâm vụn. Một lão bộc bị bỏ ở trang tử mà được cấp nhân sâm đều đều, hoặc là Lục gia bỗng có lòng từ bi lớn, hoặc là có người cần ông ta sống, nhưng chỉ sống vừa đủ để không nói chuyện. Ta lại xem sổ ra vào. Sáng sớm hôm nay có một xe từ phủ chính tới, ghi là đưa áo bông cho người già. Người đánh xe ký tên rất cẩu thả, nhưng dấu lăn bánh trên bùn ngoài cổng còn mới, bánh xe sâu hơn xe chở áo bông nhiều.
Ta khép sổ. “Dẫn đường.” Tiền quản sự cười gượng: “Đỗ lão thân thể yếu, e là gặp người lạ sẽ kinh động.” Thanh Hành đã mất kiên nhẫn: “Ta là người lạ?” Câu ấy làm Tiền quản sự nghẹn hẳn. Hắn từng là tiểu công tử trong phủ, có thể không được mọi người yêu, nhưng mặt mũi vẫn đủ khiến kẻ dưới phải nhường. Ta không nói gì thêm, chỉ xuống xe đi về phía viện sau. Trong quản trị, có những lúc quy trình đủ dùng; cũng có lúc phải để đối phương hiểu rằng mình đã không còn được chọn loại bút dùng để ghi lời khai nữa.
Viện sau thấp và ẩm, cửa sổ dán giấy đã bong. Trên giường có chăn gấp gọn, bếp thuốc còn nóng, nhưng người không ở đó. Thanh Hành lập tức quay đầu nhìn Tiền quản sự. Sắc mặt người này cuối cùng không diễn nổi nữa. “Vừa rồi… vừa rồi còn ở đây.” Ta đi tới bếp thuốc, nhấc nắp ấm lên ngửi. Mùi cam thảo, bối mẫu, thêm một vị an thần khá nặng. Người bệnh phế dùng được, nhưng dùng nhiều sẽ ngủ mê. Ta đặt nắp xuống. Trong phòng có một hàng dấu chân từ cửa sau kéo ra vườn, bùn còn ướt, một sâu một nông. Lão nhân bệnh lâu đi không đều chân; người dìu ông ta lại cố bước rất nhẹ. Vội, nhưng chưa đủ quen đường.
Chúng ta men theo dấu chân tới kho phơi thóc cũ phía sau. Cửa kho khóa ngoài bằng dây gai, nút buộc mới, nhưng kiểu buộc là kiểu người nhà quê dùng để cột bao thóc, không phải kiểu trong phủ. Ta nhìn Thanh Hành. Hắn rút dao cắt dây. Bên trong tối và đầy bụi rơm, một tiếng ho khẽ vang lên từ góc tường. Đỗ Trường Tín ngồi sau mấy sọt tre, tóc bạc xơ xác, áo bông khoác lệch, tay còn siết một túi vải nhỏ. Bên cạnh ông là một tiểu đồng chừng mười tuổi sợ đến mặt trắng. Thấy Thanh Hành, ông run run muốn đứng lên, nhưng đầu gối không nghe lời.
“Đỗ bá.” Thanh Hành bước tới đỡ ông, giọng thấp đi rất nhiều. Một người kiêu ngạo khi gọi một lão bộc bằng chữ bá, thường là trong lòng còn giữ một đoạn ký ức sạch sẽ. Đỗ quản gia nhìn hắn, rồi nhìn ta, ánh mắt dừng rất lâu trên bàn tính trong tay áo ta. “Giống… thật giống phu nhân.” Ta không hỏi ông giống ai. Trong một ngày như thế này, một câu cảm thán cũng có thể là chìa khóa. Ta chỉ đặt hộp tre lên sọt, mở nắp để ông nhìn mảnh thư. “Trong thư nhắc quản gia cũ và gia phả. Ta đến hỏi ông, năm đó gia phả của ta đã bị ai động vào?”
Đỗ quản gia nhắm mắt. Cổ họng ông khò khè như ống bễ cũ. “Công tử, người hỏi câu này là đã bước vào chỗ không quay đầu được.” Ta đáp: “Ta đã ở trong từ đường mười hai năm, chỗ có thể quay đầu vốn cũng không nhiều.” Ông ho một trận, tiểu đồng vội đưa nước. Uống xong, Đỗ quản gia mở túi vải. Bên trong không phải vàng bạc, cũng không phải hôn thư, mà là mấy tờ giấy đã ố vàng, mép bị gập nhiều lần đến mềm như lá khô. Ông nói: “Gia phả chính không ở chỗ lão nô. Nhưng trước khi chép vào bản chính, Lục gia luôn có phả thảo để đối số ngày sinh, hôn khế, thứ tự phòng chi. Lão nô năm đó phụ trách đối bản. Đây là phần bản nháp lão nô giữ lại để phòng có người nói lão nô chép sai.”
Ta nhận lấy giấy. Trên đó là hàng chữ về nhánh của phụ thân ta. Mực cũ đã nhạt, nhưng vẫn đọc được tên Tô Diên. Trước tên bà vốn có hai chữ bị dao cắt mất một nửa, đường cắt rất mảnh, sau đó được dán một miếng giấy khác lên. Miếng giấy mới ghi “Tô thị, sinh thứ tử Hoài Tranh”. Dưới ánh sáng lọt qua khe ván, ta thấy bên dưới lớp dán còn lộ một nét ngang rất nhỏ. Thanh Hành cúi sát nhìn, sắc mặt biến đổi. Hắn không giỏi sổ sách như ta, nhưng hắn biết gia phả. Hai chữ “sinh thứ tử” không đáng sợ. Đáng sợ là chúng được viết lên trên một vết cắt.
“Trước đó viết gì?” ta hỏi. Đỗ quản gia mím môi. “Nguyên phối.” Hai chữ ấy rơi xuống kho thóc cũ, bụi trong không khí cũng như ngừng lại. Nguyên phối nghĩa là người vợ đầu được cưới hỏi chính thức. Nếu Tô Diên là nguyên phối, vậy ta không phải vết nhơ được ghi tạm vào gia phả để khỏi tuyệt tình, mà là con hợp pháp đứng trước rất nhiều cái tên. Ta bỗng hiểu vì sao năm đó có người cần bà chết, lại cần ta sống trong từ đường nhưng không chết hẳn. Một đứa trẻ chết sẽ thành án mạng, một đứa trẻ bị sửa thành thứ tử thì chỉ là gia quy.
Thanh Hành cầm tờ giấy, đầu ngón tay căng trắng. “Không thể chỉ dựa vào bản nháp. Hôn thư đâu?” Đỗ quản gia lắc đầu. “Mất rồi. Hôn thư của đại lão gia và Tô phu nhân vốn đặt trong rương hôn khế ở đông viện, có dấu sáp của hai nhà và chữ của gia chủ. Sau đêm Tô phu nhân xảy ra chuyện, đại phu nhân sai người lấy rương ấy đi đối chiếu. Đến khi trả lại, hôn thư không còn, chỉ còn một bản ghi bổ sung nói Tô thị chưa từng qua lễ chính thất. Lão nô không chịu chép. Đêm đó nhị lão gia đến gặp lão nô, nói nếu Lục gia vì một tờ giấy mà bị tội thông địch liên lụy, cả phủ từ chủ đến tớ đều phải chết.”
Ta nghe đến đây, lòng lại không nổi giận ngay. Gần đây ta phát hiện sự giận dữ cũng biết mệt. Nó bị sự thật kéo đi quá nhiều lần, đến khi sự thật thật sự đứng trước mắt, nó chỉ còn lạnh. “Ông vì vậy rời phủ?” Đỗ quản gia cười khổ. “Lão nô không phải người có xương cứng. Lão nô chỉ giữ lại bản nháp này, rồi giả bệnh xin về trang tử. Những năm sau vẫn có người cấp thuốc cho lão nô, không phải thương lão nô bệnh, mà là nhắc lão nô còn đang được họ nuôi.” Ông nhìn ta, mắt đỏ nhưng không dám khóc. “Công tử, lão nô có tội. Nhưng nếu hôm nay người lấy bản nháp này đi, xin đừng chỉ nhìn nó như chứng cứ tranh vị. Phu nhân năm đó không chỉ bị đoạt danh phận. Người bị cắt khỏi gia phả trước khi bị cắt khỏi nhân gian.”
Ngoài kho bỗng vang lên tiếng bước chân gấp. Mạnh Tứ chạy vào, trên vai còn dính bùn. “Công tử, bắt được một người lục phòng Đỗ quản gia. Trong tay hắn có thư điều người.” Hắn đưa lên một phong thư đã bị vò nhăn. Phong thư dùng giấy trong phủ, dấu bên dưới là dấu quản sự đông viện. Không phải ấn chính của Lục Sùng, cũng không phải dấu của nhị phòng, mà là dấu nhỏ thường dùng khi đại phu nhân sai người xử lý việc nội trạch: đưa áo, cấp thuốc, chuyển người hầu già yếu. Lý do viết rất gọn: Đỗ Trường Tín bệnh nặng, đưa tới am Tĩnh An tĩnh dưỡng, không cần báo rộng để khỏi kinh động gia chủ.
Thanh Hành đọc xong, mặt lạnh đến mức gần như không còn là thiếu niên từng cãi nhau với ta trong gia học. “Bà ấy muốn chuyển Đỗ bá đi.” Ta gấp bản phả thảo, đặt lại vào hộp tre cùng mảnh thư. Hộp tre vốn để giữ một góc giấy cháy, giờ lại phải giữ thêm một đoạn danh phận bị cắt. “Không phải muốn,” ta nói. “Là đã bắt đầu.” Ta quay sang Mạnh Tứ. “Đưa Đỗ quản gia lên xe khác, đổi đường nhỏ về phủ. Không qua cổng chính. Gọi người của ta canh đông viện và từ đường, nhưng không động thủ trước. Ai muốn đốt giấy, ai muốn chuyển rương, cứ để họ bước ra ánh sáng.”
Chúng ta rời trang tử khi trời xế chiều. Trên đường về, Thanh Hành im lặng rất lâu. Đến gần cổng thành, hắn mới khàn giọng hỏi: “Nếu tất cả là thật, những năm qua chúng ta gọi ngươi là gì?” Ta nhìn vệt bùn khô trên thành hộp tre, đáp: “Gọi thế nào không quan trọng bằng vì sao phải gọi như thế.” Hắn không nói nữa. Ta biết câu ấy đối với hắn cũng tàn nhẫn. Nếu ta bị sửa từ đích thành thứ, vậy người được dạy rằng mình đứng trước ta trong gia phả cũng bị người lớn đặt vào một ván cờ từ khi chưa hiểu cờ là gì.
Xe vừa vào ngõ sau Lục phủ, người canh từ đường đã chạy tới, thở không ra hơi. “Công tử, đại phu nhân nghe nói ngài đi tìm Đỗ quản gia, sắc mặt liền đổi. Bà ấy đã vào từ đường, nói muốn thay gia chủ kiểm lại gia phả cũ.” Ta xuống xe, cầm hộp tre trong tay. Sau một ngày mưa tạnh, gió trong phủ lại lạnh như đêm qua. Ta hỏi: “Bà ấy đi một mình?” Người kia lắc đầu. “Không. Nhị lão gia cũng vừa tới.” Ta nhìn về hướng từ đường, nơi mái ngói còn ướt nước và bài vị tổ tiên đang im lặng sau những cánh cửa nặng. “Vậy thì tốt,” ta nói. “Người hoảng rồi, thường sẽ tự tay chạm vào thứ mình sợ nhất.”
