Chương 52: Nàng Không Biện Minh
Ủng hộ Lăng Kính Truyện
Mở ưu đãi một lần để tiếp tục đọc. Thông báo này chỉ hiện lại sau 4 giờ.
Mở ưu đãi và tiếp tục đọcChương 52: Nàng Không Biện Minh
Mưa vẫn rơi sau lưng ta. Từ đường Lục gia bị bỏ lại trong tiếng nước đập lên mái ngói, còn chiếc bàn tính của mẫu thân nằm trong tay ta, lạnh đến mức giống như không phải gỗ mà là một đoạn xương người cũ. Ta đi rất chậm, không vì muốn ai đuổi theo, mà vì từng bước đều phải đạp qua một ý nghĩ: quay đầu lại, nói với Vân Chi một câu rằng nàng không sai. Nhưng ngay sau ý nghĩ ấy là giọng Tạ Hành Chu, là cửa sau y quán đã mở trong đêm, là lời nhắn dùng tên nàng khi còn nhỏ để ép một người cha buông tay. Người sống luôn có lý do để sợ. Người chết thì không còn cơ hội nói lý do của mình nữa.
Thanh Hành đuổi kịp ta ở hành lang phía tây. Hắn không hỏi ta có ổn không. Câu đó đêm nay quá thừa, giống như hỏi người vừa rơi xuống nước có ướt không. Hắn chỉ nhìn chiếc bàn tính trong tay ta, rồi thấp giọng nói: “Ngày mai cần nhân chứng, ta đi.” Ta gật đầu. “Không chỉ ngươi. Gọi Mạnh Tứ, gọi người ghi chép của từ đường, lại sai người canh cửa Tạ gia y quán từ xa. Đừng kinh động, chỉ nhìn xem đêm nay có ai ra vào.” Thanh Hành cau mày. “Ngươi nghi sẽ có người động đến mảnh thư?” Ta nhìn màn mưa. “Vị trí của nó vừa được nói ra trước mặt quá nhiều người. Trong sổ sách, chỗ nào bị đánh dấu bằng mực đỏ thì chỗ đó dễ bị xé nhất.”
Đêm ấy ta không ngủ. Ta ngồi trong thư phòng, đặt bàn tính trên án, lấy giấy ghi lại từng lời Tạ Hành Chu đã nói. Cửa tây, y quán, phòng sắc thuốc, lệnh bài Lục gia, quan sai đứng ngoài, cửa sau, người tự xưng đưa mẫu thân ta đến gặp tổ phụ. Viết đến dòng cuối cùng, đầu bút dừng rất lâu. Ta vốn quen dùng chữ để ép sự hỗn loạn thành hàng lối, nhưng có một số khoản nợ không chịu nằm yên trên giấy. Chúng cứ ngẩng đầu lên, hỏi ta vì sao người mở cửa sau không phải ai khác, mà lại là cha của nàng.
Gần sáng, người được phái đi trở về bẩm rằng Tạ gia y quán cả đêm không thắp đèn lớn, nhưng canh tư có bóng người vào phòng thuốc phía sau. Người ấy đi rất nhanh, không mang đèn lồng, sau đó cửa hông đóng lại. Ta nghe xong chỉ bảo hắn lui xuống. Lòng ta không nổi giận ngay. Đó mới là điều khiến ta thấy mệt. Nếu là trước kia, ta có thể lập tức tin Vân Chi có lý do. Nếu là với người khác, ta cũng có thể lập tức kết tội hắn giấu chứng. Nhưng khi hai điều ấy đụng vào cùng một người, lòng người liền thành một bàn tính bị rơi mất hạt, gảy thế nào cũng không ra con số sạch sẽ.
Khi trời vừa sáng hẳn, ta đến Tạ gia y quán. Mưa đã nhỏ đi, mái hiên còn rỏ nước, mùi thuốc ẩm trong sân nặng hơn mọi ngày. Tạ Hành Chu đứng chờ trước cửa, sắc mặt sau một đêm như già thêm vài tuổi. Vân Chi cũng ở đó. Nàng mặc áo xanh nhạt, tay áo còn dính vệt nước, hộp thuốc quen thuộc đặt bên cạnh chân. Nàng nhìn ta một cái rồi cúi mắt, không gọi tên ta, cũng không bước lên giải thích. Sự im lặng ấy khác với sự im lặng của người trốn tội. Nó giống một người đứng trước vết thương của người khác, biết mình không có tư cách bảo vết thương ấy đừng đau.
Thanh Hành, Mạnh Tứ và người ghi chép đứng ở hiên ngoài. Ta không vào chính đường uống trà, cũng không để Tạ Hành Chu nói lời vòng vo. “Hộp thuốc cũ ở đâu?” Tạ Hành Chu khàn giọng: “Trong phòng sắc thuốc.” Ông tự tay dẫn đường. Phòng sắc thuốc phía sau hẹp hơn ta tưởng, tường ám khói nhiều năm, trên giá gỗ xếp từng ngăn dược liệu đã dán nhãn cẩn thận. Ở góc trong cùng có một chiếc hòm gỗ đen, khóa đồng đã cũ, bên cạnh còn có vết trầy mới rất mảnh. Ta nhìn vết trầy ấy, Thanh Hành cũng nhìn thấy. Hắn không nói gì, nhưng tay đã đặt lên chuôi kiếm.
Tạ Hành Chu lấy chìa khóa ra. Chìa vừa chạm vào ổ, tay ông run một cái. Ổ khóa không còn kín. Nó đã bị người ta cạy qua, chỉ cần xoay nhẹ đã bật mở. Mặt Tạ Hành Chu trắng bệch. Ông lật từng lớp khăn thuốc, kéo ngăn đáy, mở tấm ván mỏng phía dưới. Bên trong trống không. Trong căn phòng đầy mùi cam thảo và quế chi, sự trống rỗng ấy còn sắc hơn một tiếng kêu. Mạnh Tứ hít vào, người ghi chép vô thức nâng bút. Thanh Hành lạnh giọng: “Đêm qua ai vào đây?”
Tạ Hành Chu quay phắt lại nhìn Vân Chi. Không phải nghi nàng hại người, mà là một người cha vừa nhận ra bí mật mình giữ mười hai năm ngay cả khi đưa ra cũng không giữ được trọn vẹn. Vân Chi không tránh ánh mắt ông. Nàng bước lên, tháo hộp thuốc của mình, từ lớp lót dưới cùng lấy ra một bao vải dầu nhỏ đã được buộc bằng chỉ đỏ. “Là con lấy.” Câu ấy vừa ra, ngoài hiên lập tức có tiếng xôn xao. Thanh Hành nhíu mày. Tạ Hành Chu nghẹn giọng: “Vân Chi, con…” Nàng cắt lời ông rất nhẹ: “Cha, xin người đừng nói giúp con.”
Ta nhìn bao vải dầu trong tay nàng. Ngón tay nàng trắng vì siết quá chặt, nhưng giọng lại ổn định lạ thường. “Đêm qua trong từ đường, cha đã nói chỗ giấu mảnh thư trước mặt rất nhiều người. Lục nhị gia nghe thấy, người hầu nghe thấy, cả những người muốn Tạ gia chết cũng có thể nghe thấy. Con về y quán trước cha nửa khắc, thấy cửa hông có bùn mới và then cửa bị cạy. Con không biết người đó đã vào được hay chưa, chỉ biết nếu cứ để mảnh thư ở chỗ cũ đến sáng, có lẽ hôm nay chúng ta sẽ chỉ còn một cái hòm rỗng.” Nàng đặt bao vải lên bàn, rồi lùi lại nửa bước. “Con lấy nó ra không phải để giấu. Con để dấu sáp của Tạ gia trên mép vải, sáng nay giao trước mặt nhân chứng. Nếu Lục công tử không tin, có thể xem dấu bùn ngoài cửa hông và vết cạy trên khóa.”
Hai chữ Lục công tử rơi xuống giữa chúng ta, nhẹ đến mức gần như không có tiếng, nhưng ta vẫn nghe rất rõ. Ta từng không thích người khác gọi mình như thế, vì trong Lục gia, hai chữ công tử thường không phải kính trọng mà là khoảng cách. Hôm nay nàng tự tay đặt khoảng cách ấy vào đúng chỗ. Không than, không trách, không nói cha nàng bị ép nên đáng thương, cũng không nói nàng từ đầu đến cuối vô tội nên ta nên mềm lòng. Nàng chỉ đưa chứng cứ ra, như một đại phu đặt dao sạch lên khay trước khi rạch một vết thương đã mưng mủ.
Ta mở bao vải dầu. Bên trong là một góc giấy cháy đen, chỉ lớn bằng nửa bàn tay. Mép giấy giòn, chạm mạnh sẽ vụn, chữ còn lại rất ít. Người ghi chép cúi xuống nhìn, đọc từng nét có thể nhận: “…bến Dương Liễu… kho phụ… không qua sổ chính…” Một dòng khác bị cháy mất đầu, chỉ còn mấy chữ: “…gặp Sùng không được… hỏi quản gia cũ… gia phả…” Thanh Hành ngẩng đầu. Tạ Hành Chu nhắm mắt, như thể chính ông cũng không biết trong góc giấy còn lại có hai chữ gia phả. Mạnh Tứ thì run đến mức suýt đánh rơi cây bút ghi lời chứng.
Gia phả. Hai chữ ấy đáng lẽ không nên nằm trong cùng một mảnh thư với quân lương. Quân lương là bạc, là kho, là quan phủ, là mạng người ngoài chiến tuyến. Gia phả là máu, là danh phận, là quyền đứng trước bài vị tổ tiên. Nhưng mười hai năm trước, mẫu thân ta đang truy một đường dây đủ sâu để kéo cả Lục gia xuống nước. Nếu bà nhắc đến gia phả trước khi chết, vậy cái chết của bà có lẽ không chỉ vì bà biết tiền lương bị rút đi đâu, mà còn vì bà biết trong nhà này có người đã động vào thứ quyết định ai được gọi là con, ai bị ném vào từ đường như một món nợ xấu.
Tạ Hành Chu quỳ xuống lần nữa. “Ta không biết trên đó có chữ gia phả. Năm đó ta chỉ kịp giữ lại, không dám mở ra xem nhiều.” Lần này, Vân Chi không quỳ theo cha. Nàng đứng bên cạnh ông, mặt trắng nhưng lưng thẳng. “Cha sai rồi,” nàng nói. Một câu rất ngắn, không cao giọng, không làm dáng đại nghĩa. “Con cũng không có mặt năm đó để thay người trả nợ. Nhưng từ hôm nay, Tạ gia không giữ chứng cứ trong hòm thuốc nữa. Cha nợ Tô phu nhân một lời chứng, thì phải trả lời chứng. Con nợ Hoài Tranh một sự trong sạch, thì con trả bằng sự thật, không trả bằng nước mắt.”
Cổ họng ta khựng lại ở tên mình. Nàng cuối cùng vẫn gọi ta là Hoài Tranh, nhưng không dùng nó để kéo ta mềm lòng. Ta bỗng nhớ nàng năm nhỏ lén đem bánh quế vào từ đường, cũng là dáng vẻ ấy: sợ thì vẫn sợ, tay run thì vẫn run, nhưng thứ cần đưa cho ta, nàng chưa từng rút về. Khi ấy nàng đưa một miếng bánh còn ấm. Hôm nay nàng đưa một mảnh giấy cháy cạnh, và cả hai lần, nàng đều không hỏi ta có xứng đáng nhận hay không.
Ta bảo người ghi chép lập biên nhận ngay tại chỗ, ghi rõ tình trạng hộp thuốc, vết cạy khóa, dấu bùn ngoài cửa hông và thời điểm Vân Chi lấy mảnh thư. Thanh Hành tự mình đi kiểm tra cửa sau, trở về nói dấu chân còn mới, đế giày rộng, không giống người Tạ gia thường dùng giày vải mỏng trong y quán. Mọi thứ đều nói rằng đêm qua thật sự có người đến tìm mảnh thư. Chỉ là người đó đến muộn hơn Vân Chi một bước. Ta nên thấy may. Nhưng ta không muốn dùng chữ may cho một việc đáng lẽ không nên xảy ra. Chứng cứ sống sót không phải vì trời thương ta, mà vì nàng sau khi bị tổn thương vẫn còn đủ tỉnh táo để bảo vệ thứ có thể làm đau cả nhà mình.
Ra khỏi Tạ gia y quán, mưa đã ngừng hẳn. Vân Chi tiễn đến dưới mái hiên rồi dừng lại. Ta cũng dừng, nhưng không quay hẳn người. Phía sau rất yên, đến mức ta nghe được tiếng nàng hít thở. Cuối cùng nàng nói: “Ta không biện minh cho cha ta.” Ta đáp: “Ta biết.” Nàng lại nói: “Ta cũng không trách ngươi chưa tin ta như trước.” Lần này ta im lặng lâu hơn. Tin tưởng là thứ rất lạ. Nó không vỡ thành hai nửa rõ ràng như chén sứ, mà nứt thành những đường nhỏ, nhìn qua vẫn còn nguyên, cầm lên mới thấy nước từ từ rỉ ra ngoài.
Ta cầm mảnh thư đã được bọc lại, bước xuống bậc đá. Đi được vài bước, ta gọi Thanh Hành. “Trong thư nhắc quản gia cũ. Lục gia trước đây ai quản gia phả?” Thanh Hành nghĩ một lúc, sắc mặt chậm rãi đổi. “Đỗ quản gia. Nhưng ông ta rời phủ nhiều năm rồi. Phụ thân ta nói ông ấy già bệnh, được đưa về trang tử phía bắc dưỡng lão.” Ta nhìn con đường sau mưa, nơi bùn đất còn in những dấu chân chưa kịp khô. “Chuẩn bị xe.” Thanh Hành hỏi: “Bây giờ?” Ta siết chiếc bàn tính trong tay áo. “Bây giờ. Trước khi có người nhớ ra rằng một lão quản gia cũ cũng có thể biến mất.”
