Chương 30: Bức Ảnh Thiếu Một Góc
Hạ An giữ con trỏ ở mép bức ảnh, nơi chiếc máy trạm chỉ còn lại một phần màn hình sáng phía sau vai người đứng trước.
Khang nhìn thêm vài giây rồi tự lùi ghế ra. Hình đủ rõ để anh nhận ra đúng dãy máy, đúng vị trí mình đã ngồi tối đó. Nhưng phần cần biết nhất lại bị che. Bức ảnh không thiếu dữ liệu vì bị hỏng; nó chỉ thiếu đúng một góc mà họ không có quyền tự tưởng tượng thêm.
“Đừng phóng nữa,” anh nói.
Huy đang định kéo thanh phóng lớn thì buông tay. Họ lưu số ảnh, thời điểm và vị trí thư mục rồi rời kho câu lạc bộ. Khang chỉ ghi thêm một dòng vào bảng ba cột: máy trạm xuất hiện trong ảnh khi anh không có mặt; màn hình đang sáng; nội dung bị che.
Phòng dự án chiều đó vẫn ngổn ngang phần việc của Góc Học Gọn. Bộ hình hướng dẫn mới được dán thử trên bảng, cạnh đó là lịch chuẩn bị cho buổi phỏng vấn Vườn ươm Sản phẩm Trẻ. Phúc ngồi cuối bàn rà danh sách hồ sơ; Vy đang chỉnh thứ tự hình lắp ráp trên máy tính.
Khang đặt điện thoại xuống trước mặt Vy.
“Có thể nhờ cô xem giúp mấy ảnh cũ không?”
Vy ngẩng lên. Khang mở bức cuối cùng ở kho câu lạc bộ và nói rõ câu hỏi trước khi kể thêm.
“Tôi muốn biết ảnh này xác nhận được gì về bố cục. Không cần đoán nội dung màn hình.”
Vy kéo ghế sang, nhìn ảnh ở kích thước vừa đủ rồi so với sơ đồ bố trí xưởng Huy đã vẽ hôm trước.
“Máy của anh là cái này?”
“Ừ.”
“Bàn số bốn ở ngoài khung, chếch về bên trái?”
Huy kéo tờ sơ đồ lại gần. “Đúng vị trí.”
Vy lấy giấy nháp, vẽ nhanh khung ảnh thành hình chữ nhật. Cô đánh dấu máy trạm, lối đi và phần thân người che phía trước, rồi kẻ hai đường từ vị trí máy ảnh vào hậu cảnh.
“Ảnh cho mình biết máy nằm ở đây, người chụp đứng khoảng hướng này. Mình cũng biết màn hình đang phát sáng vì nó khác nền.” Cô dừng bút ở phần giữa khung. “Nhưng chỗ có thể chứa nội dung thì bị che. Phóng lớn chỉ làm điểm ảnh to hơn, không sinh ra phần đã không được chụp.”
Phúc ở cuối bàn ngẩng lên. “Nghe như câu nên in dán lên màn hình.”
Vy cười nhẹ. “Còn nếu muốn hỏi người ở khu sinh hoạt chung có thể nhìn thấy máy không, ảnh này chỉ cho hướng tương đối. Nó không cho biết lúc đó có bao nhiêu người chắn, người đó đứng bao lâu hay có quay về phía máy không.”
Khang viết vào phần đã xác nhận: máy trạm ở trong khung nhìn từ khu vực được chụp; màn hình sáng tại thời điểm ảnh. Ở phần chưa biết, anh thêm: nội dung màn hình; trạng thái khóa; ai đã nhìn vào màn hình.
Hạ An không sửa một chữ.
“Còn bản mẫu?” cô hỏi.
Vy kéo khung sang mép trái. Ở cạnh bàn chung phía xa có một vật thể thấp, bị cắt bởi mép ảnh. Khang nhận ra màu vật liệu và một đoạn tay đòn kim loại, nhưng chỉ chừng đó chưa đủ để gọi tên nó.
“Có một vật trên bàn, đúng hướng bàn số bốn.” Vy lắc đầu. “Nhưng ảnh này không đủ để tôi nói đó là bản mẫu của anh.”
Huy nghiêng sát hơn. “Nếu chỉ nhìn đoạn này thì tôi cũng không xác nhận được cơ cấu.”
Không ai cố đẩy câu trả lời xa hơn. Vy mở tiếp chuỗi ảnh mà Khang đã chép số từ kho.
“Có ảnh trước hoặc sau cùng góc không?”
“Có hơn hai chục tấm trong khoảng đó.”
“Vậy xem theo chuỗi. Đừng tìm tấm rõ nhất. Tìm xem vị trí nào lặp lại.”
Họ lần lượt đối chiếu thời điểm và khung cảnh. Không ai dùng phần mềm làm nét hay phục hồi. Vy chỉ phóng tới mức đủ nhận cạnh bàn, cột xưởng và vị trí người, rồi trở lại kích thước gốc khi hình bắt đầu vỡ.
Ba ảnh đầu không thêm gì. Một tấm chụp quá gần nên mất dãy máy. Một tấm khác chỉ có nhóm sinh viên quay lưng về ống kính. Đến tấm thứ sáu, bàn số bốn hiện ra nhiều hơn nhưng bị một chiếc ba lô che gần nửa mặt bàn.
Khang đưa ngón tay tới màn hình rồi dừng lại.
“Cái khung kia…”
“Khoan.” Vy mở tấm liền trước. “Đừng xác nhận bằng một nét. Xem nó có lặp lại không.”
Trong tấm trước, vật thể chỉ nhô lên một đoạn. Ở tấm sau, chiếc ba lô đã được nhấc khỏi bàn. Một khung gập thấp nằm sát mép, phần tay khóa kim loại hướng ra lối đi.
Khang không cần phóng lớn thêm.
Huy im lặng vài giây rồi gõ hai lần đầu bút xuống sơ đồ.
“Có thể xác nhận trên bàn số bốn có bản mẫu khóa gập.”
Khang quay sang. “Cậu chắc ở mức nào?”
“Về kiểu cơ cấu tổng thể và vị trí thì đủ. Không đọc được kích thước, không thấy mặt cắt, cũng không thấy chi tiết khóa bên trong.” Huy chỉ vào ảnh. “Đủ nhận ra đây là bản mẫu cơ khí dạng gập, không đủ dựng lại nó từ ảnh.”
Vy gật đầu. “Và ảnh này có một thứ khác.”
Cô kéo khung sang phải.
Nam đứng cạnh lối đi, cách bàn số bốn chỉ vài bước. Không còn ở khu sinh hoạt chung phía xa như hai ảnh trước. Trong bức này, vai anh gần ngang mép bàn; người quay hơi chếch về phía khu làm việc. Thu Hà đứng sau hơn, gần nhóm sinh viên khác.
Khang thấy nắp bút trong tay mình bị siết chặt.
“Thời điểm?”
Hạ An đọc mốc Khang đã chép từ bản gốc. Nó vẫn nằm giữa hai tin nhắn cũ của anh, trước ngày hồ sơ nhóm Nam được nộp.
Phòng dự án im đi. Ngoài hành lang có tiếng kéo ghế rồi tiếng người đi ngang, nhưng Khang gần như không nghe rõ nữa.
Lần đầu tiên kể từ khi mở lại dấu vết xưởng, Nam không chỉ là một cái tên trong lịch máy hay một khuôn mặt ở cùng tòa nhà. Anh ta đứng ngay cạnh nơi bản mẫu của Khang đang đặt, trong khoảng Khang đã ra ngoài.
Một câu rất dễ viết hiện lên trong đầu: Nam đã thấy bản mẫu.
Khang đặt nắp bút xuống.
“Cột nào?” Hạ An hỏi.
Anh hiểu câu hỏi ấy không còn là cách cô kiểm tra mình. Nó đã thành cách cả nhóm giữ ranh giới.
Khang viết: ảnh cho thấy Nam đứng sát khu vực bàn số bốn khi bản mẫu khóa gập đang đặt trên bàn.
Huy đọc lại rồi gật đầu.
Khang chuyển sang cột giữa: Nam có cơ hội nhìn thấy bản mẫu.
Ở cột cuối, anh thêm: không biết Nam đã nhìn vào bản mẫu hay chưa; không biết đứng ở đó bao lâu; không biết đã chạm, chụp hay ghi lại điều gì.
Mỗi dòng khiến bàn tay anh bớt siết.
Vy vẫn giữ ảnh ở kích thước gốc. “Nếu sau này dùng tấm này, nên giữ cả chuỗi trước sau. Một tấm riêng có thể khiến người xem tưởng Nam đứng sát bàn rất lâu. Chuỗi ảnh chỉ cho thấy anh ấy xuất hiện ở vị trí đó tại thời điểm chụp.”
Khang nhìn cô.
“Cô ghi giúp tôi câu đó được không?”
Vy hơi khựng lại, rồi kéo giấy nháp tới. Cô viết cạnh sơ đồ: ảnh xác nhận vị trí tại một thời điểm, không xác nhận thời lượng hay hành vi.
Khang không sửa cách diễn đạt của cô.
Trước đây anh thường nhìn ảnh như nhìn một bản vẽ: tìm chi tiết có ích rồi bỏ phần còn lại. Vy lại nhìn cả khung và phần nằm ngoài khung. Cô không làm bằng chứng mạnh lên bằng cách thêm ý; cô khiến giới hạn của nó rõ hơn.
Hạ An lật lại những tờ giấy từ hôm trước. “Vậy hiện tại mình có gì?”
Khang đọc từng mốc: bản mẫu đã được gia công trước hồ sơ của nhóm Nam; anh rời xưởng trong khoảng gần bốn mươi phút với sai số chưa rõ; phiên máy trạm còn mở; Nam và Thu Hà có mặt; một ảnh đặt Nam sát bàn số bốn trong lúc bản mẫu ở trên bàn.
“Đủ để nói Nam có cơ hội tiếp cận không gian và nhìn thấy bản mẫu,” anh kết thúc. “Chưa đủ để nói Nam đã lấy gì.”
Huy dựa lưng vào ghế. “Mà mình cũng không thể hỏi cái ảnh thêm được nữa.”
“Có thể hỏi người trong ảnh.” Phúc nói. “Nếu cần bối cảnh.”
Khang nhìn màn hình. Ở tấm ảnh có Nam sát bàn, Thu Hà không đứng cạnh anh ta nhưng vẫn ở cùng khu vực. Ở những tấm khác, cô xuất hiện cạnh Nam nhiều hơn một lần. Điều đó không biến cô thành nhân chứng cho mọi thứ xảy ra. Nhưng cô có mặt trong buổi tối mà họ đang cố dựng lại.
Tên Thu Hà đã nằm trong sổ từ hôm qua. Khang vẫn tránh nhắn vì anh muốn có một câu hỏi cụ thể trước khi kéo người khác vào chuyện cũ. Bây giờ anh đã có.
Hạ An khép cuốn sổ mép gấp. “Nếu hỏi, đừng gửi cả kết luận cho cô ấy trước.”
“Tôi biết.”
“Và đừng hỏi ‘Nam đã làm gì’.”
Khang cầm điện thoại lên. “Tôi biết.”
Hạ An không nhắc lại.
Khang mở cuộc trò chuyện với Thu Hà. Anh gõ một câu dài rồi xóa; câu thứ hai có tên Nam cũng bị xóa.
Anh nhìn bức ảnh lần cuối. Bàn số bốn, bản mẫu khóa gập, Nam ở gần. Chừng đó là phần anh biết. Còn Thu Hà đã thấy gì, nếu có, phải là phần của cô.
Khang nhắn chỉ một câu:
“Tối đó bạn có nhớ chuyện gì ở bàn số bốn không?”
