Bỏ qua nội dung

Chương 30: Vì sao phải ký trước quý

Câu của Thu Dung theo Minh sang đầu tuần sau. Khi bản tiến độ cũ đã bị đánh dấu hết hiệu lực, không còn ai có thể vô tình dùng nó như một lợi thế chưa bị kiểm chứng. Nhưng càng sửa các giả định kỹ thuật, anh càng thấy một mốc khác vẫn nằm nguyên trong tất cả lịch làm việc: ngày cuối quý.

Sáng thứ Hai của tuần mười một, Ban điều phối mở riêng một phiên tài chính có đại diện Tân Phúc. Hồ Nhật Phong đặt trước mặt mỗi bên một danh sách ngắn những vấn đề cần xác nhận. Không có bảng điểm, cũng không có phần thuyết trình phương án. Mục đầu tiên là nguồn vốn chuyển tiếp của Lam Viên. Mục thứ hai là chi phí phát sinh khi không mặc định có lối hậu cần. Mục thứ ba chỉ có một dòng: căn cứ của thời hạn giao dịch trước cuối quý.

Minh dừng mắt ở dòng cuối lâu hơn hai mục còn lại.

Lê Quốc Đạt ngồi phía đối diện, tập tài liệu mỏng hơn thường lệ. Từ đầu dự án, ông luôn có cách đẩy những câu hỏi về thời gian thành một yêu cầu vận hành: thành phố cần nhanh, Tân Phúc không thể chờ, bên phát triển phải sẵn sàng quyết định. Lần này Nhật Phong không hỏi vì sao Tân Phúc muốn nhanh. Ông hỏi thời hạn đó đang ràng buộc điều gì.

“Sau các phiên xác minh vừa rồi, hội đồng cần biết mốc cuối quý có phải điều kiện của quy trình lựa chọn hay là điều kiện tài chính của bên vận hành,” Nhật Phong nói. “Hai việc đó không được nhập làm một nếu căn cứ khác nhau.”

Đạt không trả lời ngay. Ông đặt hai bàn tay lên tập hồ sơ, ngón cái miết qua cạnh giấy rồi mới mở trang đã đánh dấu.

“Đây là điều kiện trong thỏa thuận tái cơ cấu khoản vay của Tân Phúc.”

Đạt tiếp tục, giọng vẫn giữ mức bình tĩnh quen thuộc. “Tân Phúc phải đạt một mốc giao dịch với đối tác phát triển trước khi quý kết thúc. Nếu không đạt, chủ nợ có quyền yêu cầu bổ sung bảo đảm và áp dụng các hạn chế dòng tiền theo thỏa thuận tái cơ cấu.”

Nhật Phong hỏi: “Mốc giao dịch ở đây có đồng nghĩa phải hoàn tất toàn bộ lựa chọn đối tác theo lịch hiện tại không?”

“Không viết như vậy.” Đạt nhìn xuống văn bản. “Điều kiện nói đến việc đạt được một giao dịch đủ điều kiện. Cách đáp ứng cụ thể phụ thuộc cấu trúc cuối cùng và chấp thuận của các bên liên quan.”

Câu trả lời mở ra một khoảng trống trong thứ từ đầu tới giờ vẫn được nói như hạn chót không thể thay đổi. Nó khiến những lần Tân Phúc thúc rút ngắn kiểm tra dữ liệu càng khó bỏ qua.

Hà An lên tiếng khi Nhật Phong cho phép hai đội đặt câu hỏi.

“Điều gì xảy ra về mặt vận hành nếu điều kiện đó bị kích hoạt?”

Đạt ngẩng lên. “Tân Phúc sẽ mất một phần linh hoạt tài chính. Chúng tôi phải bố trí thêm tài sản bảo đảm theo quyền của chủ nợ và chịu giới hạn chặt hơn đối với dòng tiền.”

“Có phải tình trạng mất khả năng thanh toán ngay không?”

“Không.” Đạt đáp dứt khoát. “Và tôi không muốn nội dung hôm nay bị diễn giải theo hướng đó.”

Nhật Phong gật đầu với thư ký. “Ghi đúng mức xác nhận. Áp lực thanh khoản và quyền kiểm soát dòng tiền, không phải kết luận mất khả năng thanh toán.”

Hà An không hỏi thêm về giá trị khoản vay, tài sản bảo đảm hay tên chủ nợ. Những thứ đó có thể làm Tân Phúc yếu đi trong thương lượng, nhưng không cần thiết để trả lời vì sao mốc cuối quý bị đối xử như giới hạn không thể lùi.

Đến lượt Thành Nam, Minh chỉ hỏi một câu.

“Ông biết điều kiện này từ khi nào trong quá trình lựa chọn?”

Đạt nhìn thẳng sang anh. “Trước khi quy trình bắt đầu.”

“Và vì sợ công khai sẽ làm Tân Phúc yếu thế?”

“Đúng.”

Sự ngắn gọn đó khiến Minh phải đổi cách nhìn. Anh đã dành nhiều tuần lần theo dữ liệu bị rút gọn, phụ lục bị đẩy xuống sau và những câu trả lời chỉ đúng một nửa. Nhưng điều nằm trên bàn là một cấu trúc tài chính thật, có hậu quả thật; Đạt đã chọn bảo vệ khả năng tự chủ của Tân Phúc bằng cách để người khác đánh giá dự án trên một lịch trình thiếu bối cảnh.

Lựa chọn đó vẫn sai. Chỉ là lần đầu Minh nhìn thấy đầy đủ thứ đã đẩy nó đi.

Nhật Phong lật sang trang tiếp theo. “Tân Phúc có đề xuất gì sau khi điều kiện này được công bố?”

Đạt dựa lưng vào ghế. “Chúng tôi vẫn đề nghị giữ mục tiêu giao dịch trước cuối quý. Nếu lịch bị kéo dài quá xa, hậu quả không chỉ nằm trên giấy. Khả năng vận hành và quyền chủ động của công ty sẽ bị thu hẹp đúng lúc chúng tôi phải chuẩn bị giai đoạn chuyển tiếp.”

Một đại diện hội đồng hỏi: “Vậy ông đề nghị hội đồng bỏ qua các vấn đề vừa xác minh để giữ mốc?”

“Không.” Đạt ngừng một nhịp. “Tôi đề nghị phân biệt giữa những việc phải giải quyết trước khi ký và những việc có thể khóa bằng điều kiện sau. Tân Phúc đã làm theo logic đó từ đầu.”

Minh bất giác nghĩ tới Quang Huy. Ký trước, xử lý sau. Hai người ở hai phía khác nhau của bàn đã đi tới cùng một cách giải vì cùng sợ mất cơ hội kiểm soát. Sau ba mươi bảy quầy, con số bốn mươi mốt phần trăm và phụ lục lối sau, anh không còn tin mọi thứ đều có thể dời sang một ngày thuận tiện hơn.

“Có một cách khác,” Minh lên tiếng.

Nhật Phong quay sang anh. “Anh đề nghị gì?”

Minh kéo tờ lịch đánh giá lại gần. “Tách mốc tài chính của Tân Phúc khỏi tiêu chí kỹ thuật của hai phương án. Hội đồng vẫn đánh giá quyền tiếp cận, nghĩa vụ chuyển tiếp, dữ liệu đồng thuận và khả năng tài chính theo mức bằng chứng cần có. Không đội nào được cộng điểm chỉ vì có thể ký nhanh hơn trước khi những điều đó đứng vững.”

Đạt hơi nhíu mày. “Nếu tách như vậy, mốc giao dịch của chúng tôi có thể không đạt.”

“Có thể,” Minh đáp. “Nhưng ép tiêu chí kỹ thuật chạy theo hạn vay cũng không làm rủi ro biến mất. Nó chỉ khiến mọi người có động cơ gọi một điều kiện chưa xong là điều kiện có thể xử lý sau.”

“Anh đang đề nghị Tân Phúc tự gánh hậu quả của việc hội đồng kéo lịch?”

“Không.” Minh đặt đầu bút xuống đúng dòng cuối quý. “Tôi đề nghị cho Tân Phúc quyền trình một giải pháp cầu nối riêng cho áp lực tài chính, nếu cần. Có thể là một thỏa thuận tạm thời với chủ nợ hoặc một cấu trúc giao dịch khác đủ đáp ứng điều kiện của các bên. Nhưng giải pháp đó phải được xem là vấn đề tài chính của Tân Phúc, không phải lý do để hạ chuẩn thẩm định kỹ thuật.”

Hà An không phản đối. Cô lật một trang trong sổ rồi hỏi Nhật Phong: “Nếu tách hai đường như vậy, lịch kỹ thuật có được xem lại theo các điểm đã xác minh không?”

“Đó là việc hội đồng sẽ phải quyết định,” ông đáp. “Hôm nay chúng ta chưa chốt lịch mới. Tân Phúc cần nộp xác nhận chính thức về phạm vi điều kiện tái cơ cấu và các lựa chọn cầu nối mà họ có quyền thương lượng. Hai đội cập nhật những mốc kỹ thuật thực sự cần thiết trên cơ sở dữ liệu đã được xác minh lại.”

Minh hiểu ý: danh sách quầy, tỷ lệ đồng thuận và quyền tiếp cận đều đã đổi. Một lịch xây trên ba giả định cũ không thể giữ nguyên chỉ vì khoản vay cần nó.

Đạt khép hồ sơ. Gương mặt ông vẫn bình tĩnh, nhưng lần đầu Minh không còn thấy động tác nhìn đồng hồ như một thói quen gây khó chịu. Nó có nguyên nhân cụ thể. Mỗi ngày kéo dài đồng nghĩa Tân Phúc tiến gần hơn tới một cơ chế tài chính mà Đạt đã từng trải qua đủ để sợ mất quyền chủ động.

“Có một điều tôi muốn ghi vào biên bản,” Đạt nói. “Việc tôi không chủ động công bố điều kiện này sớm hơn là quyết định của Tân Phúc để bảo vệ vị thế thương lượng. Tôi không đề nghị hội đồng coi đó là lý do bỏ qua các sai lệch đã được xác nhận. Nhưng nếu thay lịch, xin ghi nhận hậu quả tài chính là thật, không phải một cái cớ được dựng lên sau khi bị hỏi.”

Nhật Phong quay sang thư ký. “Ghi nguyên ý. Và ghi thêm: động cơ tiến độ không thay thế nghĩa vụ cung cấp thông tin đủ để các bên đánh giá đúng rủi ro.”

Minh không cần thêm gì vào câu đó.

Phiên làm việc chuyển sang các phương án cập nhật. Hoài Nam trình phần chi phí Thành Nam trên cơ sở không mặc định có lối sau; Lam Viên giữ mô hình đã sửa sau khoảng thiếu vốn. Lần đầu tiên thời gian không còn là một mệnh lệnh vô danh từ “thành phố”. Nó đã có chủ thể, lợi ích và hậu quả.

Đến cuối buổi, hội đồng chưa quyết định kéo dài bao nhiêu ngày. Nhật Phong chỉ xác nhận lịch hiện tại đang được xem xét lại và mọi mốc mới phải tách rõ yêu cầu thẩm định khỏi nhu cầu tái cơ cấu của Tân Phúc. Đạt rời phòng sau cùng trong nhóm của ông, mang theo tập tài liệu đã mở ra điều ông cố giữ kín suốt nhiều tuần.

Minh đứng lại ở hành lang để xem tin nhắn Hoài Nam gửi về danh sách mốc cần sửa. Hà An bước ra sau anh không lâu. Cô không hỏi anh có thấy Đạt đáng trách hay không; có lẽ câu hỏi đó đã quá nhỏ so với thứ vừa được xác nhận.

“Anh từng nghĩ ông ấy chỉ muốn đẩy nhanh để giữ giá dự án,” Minh nói.

Hà An dừng cạnh cửa kính, cách anh một khoảng vừa đủ để cuộc nói chuyện vẫn là giữa hai người cùng làm việc. “Bây giờ thì sao?”

Minh nhìn qua lớp kính xuống sảnh. “Bây giờ anh nghĩ ông ấy sợ mất quyền tự chủ thật. Và vì thế ông ấy đã chọn để người khác chịu rủi ro của một lịch trình mà họ không biết lý do.”

“Hiểu vì sao họ làm không có nghĩa là mình phải chấp nhận cách họ làm.”

“Anh biết.”