Bỏ qua nội dung

Chương 383: Vết Máu Trên Cửa Đá - Thư Các Cổ Văn

Ngón trỏ tay trái của Tạ Huyền vẫn đặt trên hai chữ “đối ba” khi cánh cửa y xá đã khép hẳn. Hắn không gọi nữ quản lục quay lại. Trước hết, hắn kéo tờ trắng vừa dùng sang trước mặt, viết thêm một hàng dưới phần phạm vi cũ: “Đối số lịch – chỉ đọc thứ tự, thời điểm, loại phép, mã nối và hậu tự; che chủ danh, che nội dung chứng.” Hai ngón giữa chậm hơn một nhịp khiến nét cuối hơi kéo dài. Y quan nhìn thấy nhưng chỉ đổi túi thuốc lạnh ở đầu gối trái, không cho hắn lấy cớ co ngón thử lại. Nam tu tóc hoa râm của Cốt Luận đọc mẫu, gõ nhẹ lên chữ “loại phép”. “Nếu trong hệ cũ loại phép có mã vật dẫn, phải ghi rõ chỉ giải tên loại, không mở vật nguồn.” Tạ Huyền thêm đúng câu đó. Hắn không xin bất kỳ thứ gì liên quan tới người được đối. Lần này, thứ hắn cần là đường đi của chứng cứ.

Tiểu lại y xá mang đơn đi. Khoảng chờ không dài, nhưng cũng đủ để cụm “người không nên sống” quay lại lần nữa. Tạ Huyền nhớ lớp đá xám dưới Huyền Thạch, nhớ giọng nói phía sau cửa gọi đúng tên mình, rồi nhớ câu Lạc Thanh Hoài lạnh lùng hỏi lại kẻ đó: sống là sai sao? Hắn không chép ký ức ấy vào tờ yêu cầu. Một câu nói giống nhau đã đủ dễ làm lệch phán đoán; nếu hắn còn mang cả hình ảnh cũ ép vào hồ sơ mới, thứ hắn tìm được sau đó rất có thể chỉ là điều hắn muốn thấy. Vì thế, trên mép giấy hắn viết riêng một dòng nhỏ: “Không dùng ký ức để định nghĩa mã.” Cốt Luận nhìn thấy, không bình luận.

Nữ quản lục trở lại với ba dải giấy hẹp kẹp trong một bìa xám. “Đối số lịch được duyệt một phần. Ngày đối được giữ theo thứ tự và khoảng cách, không mở nơi lập. Loại phép được giải đến cấp cấu trúc. Mã nối được giữ, nhưng mọi mã có thể hồi ra người đều che.” Nàng đặt dải thứ nhất xuống. “Đối một: trực chứng. Kết quả trường hướng – hồi là đoạn hồi. Chưa có ghi tồn hậu.” Dải thứ hai nằm dưới nó. “Đối hai: vật chứng phục đối. Kết quả vẫn đoạn hồi; từ lần này mới xuất hiện ghi tồn hậu.” Dải thứ ba là thứ họ đã biết: “Đối ba: trực chứng tái đối. Đoạn hồi – tồn hậu, đối ba.”

Tạ Huyền không hỏi vì sao lần hai lại dùng vật chứng. Hắn chỉ chỉ vào một đoạn mã bị giữ lại ở giữa dải giấy. “Phần này thuộc loại phép?” “Thuộc mã vật dẫn.” “Được giải tới đâu?” Nữ quản lục mở tờ chú mã đi kèm. “Thạch môn. Huyết tích. Chỉ mốc.”

Ba cụm từ khiến đầu ngón trỏ của Tạ Huyền dừng hẳn.

Cốt Luận nhìn hắn trước khi nhìn dải giấy. “Ngươi từng gặp mã này?” “Không.” Tạ Huyền đáp. “Ta từng gặp một vật có ba đặc điểm ấy.” Hắn không nói “cùng một vật”. Dưới Huyền Thạch, vết máu cũ trên mép đá xám kéo từ trong ra ngoài. Bên cạnh nó là vết cọ kim loại do một thanh kiếm từng được đặt ngang làm nêm. Dưới lớp máu có rãnh cực nông, và mảng máu đậm nhất nằm đúng nơi chốt trong thân cửa bắt tải. Khi ấy, hắn và Lạc Thanh Hoài đã dùng chính mốc ấy để đưa cửa về điểm dừng. Nhưng “thạch môn, huyết tích, chỉ mốc” vẫn chỉ là ba nhãn rất rộng. Nếu chỉ dựa vào đó mà nối hai việc thành một, hắn đang phạm đúng lỗi vừa tránh ở chữ “nghịch hồi”.

Hắn hỏi: “Mã vật dẫn có trường hình thái không?” Nữ quản lục đáp: “Có, nhưng đơn hiện tại không xin.” “Nếu chỉ đọc mô tả hình thái để xác nhận loại vật, không mở nơi lấy, người lấy, niên khoản nguồn?” “Có thể xin bổ sung.” Y quan cau mày khi thấy Tạ Huyền định viết tiếp. Ông kéo tờ giấy về gần tay trái hắn hơn, rồi nói với tiểu lại: “Ngươi viết. Hắn đọc.” Tạ Huyền không tranh. Hắn đọc chậm từng điều, thêm một giới hạn cuối: “Không hỏi vật này có liên quan tới người trong mục hay không.”

Lần chờ thứ hai lâu hơn. Tay phải trong nẹp bắt đầu tê ở vai vì giữ một tư thế quá lâu. Y quan kê thêm một cuộn vải dưới khuỷu, kiểm hai ngón giữa tay trái rồi lắc đầu khi Tạ Huyền hỏi bằng mắt. “Vẫn chậm, không lạnh. Đừng tự tìm hiện tượng.” Tạ Huyền thu tay lại. Không có luồng lạnh mới, không có tàn ảnh mới. Điều đó làm hồ sơ trước mặt sạch hơn, không nghèo đi.

Khi nữ quản lục quay lại, nàng không mang thêm dải giấy. Chỉ có một mảnh trích nhỏ bằng lòng bàn tay, bốn dòng, mỗi dòng chưa tới mười chữ. “Mô tả hình thái được duyệt. Ta đọc nguyên văn: vệt kéo xiên, từ nội mép ra ngoại. Kim cọ ngang, không thành vết chém. Hạ có thiển tào. Huyết tụ tại tào tận.”

Trong y xá im đi.

Tạ Huyền nhìn bốn dòng đó rất lâu. Hắn không cần nhắm mắt cũng nhớ được lớp đá xám dưới lòng núi. Những vệt máu cũ kéo xiên từ phía trong ra ngoài. Vết cọ kim loại nằm ngang, Lạc Thanh Hoài từng xác nhận đó là dấu một thanh kiếm dùng để giữ chứ không phải chém. Rãnh nông dưới vết máu. Mảng máu đậm nhất tại điểm rãnh kết thúc, đúng nơi chốt bắt tải.

Một đặc điểm có thể trùng. Hai đặc điểm vẫn có thể là cấu tạo phổ biến. Nhưng bốn đặc điểm cùng thứ tự, cùng quan hệ vị trí thì đã không còn là sự giống nhau của câu chữ.

Cốt Luận hỏi: “Ngươi dám nói cùng một cửa chưa?”

“Chưa.” Tạ Huyền đáp ngay. “Ta chỉ dám nói vật dẫn của đối hai và cánh cửa ta từng thấy có cùng một cấu trúc dấu vết rất hẹp: hướng kéo máu, vết kim loại ngang, rãnh nông phía dưới và điểm tụ máu ở cuối rãnh. Muốn nói cùng một cửa, ta cần vật đối chiếu độc lập.”

Nam tu tóc hoa râm gật đầu. “Tốt. Nếu ngươi nói ‘chắc chắn’, ta sẽ bảo thu giấy lại.”

Nữ quản lục lật mảnh trích. Mặt sau có một dòng mà nàng chưa đọc. “Có một mục kỹ thuật nữa. Mã vật dẫn của đối hai không dẫn thẳng vào mục người. Nó dẫn tới ‘thác ảnh vật chứng’ – bản rập hình thái được giữ riêng. Theo quy tắc cũ, vật gốc có thể mất, nhưng bản rập phải ở lại để lần sau kiểm hình.” Tạ Huyền nhìn nàng. “Bản rập còn không?” “Mục lục nói còn.” “Có mở được mà không xem chủ danh?” “Có thể. Bản rập chỉ giữ hình, tỷ lệ, mép lấy mẫu và mã vật. Nhưng ngươi phải xin riêng, vì nó không còn là đối số lịch.”

Tạ Huyền không lập tức bảo tiểu lại viết đơn mới. Hắn đặt ba dải giấy theo thứ tự một, hai, ba. Lần một là trực chứng, chỉ có đoạn hồi. Lần hai chuyển sang một vật chứng là huyết tích trên cửa đá, từ đó xuất hiện ghi tồn hậu. Lần ba trở lại trực chứng và giữ trạng thái ấy tới “đối ba”. Chuỗi này chưa nói người trong hồ sơ là ai. Nó cũng chưa nói vết máu thuộc về người đó, càng chưa giải thích vì sao một cửa đá lại có thể trở thành vật dẫn của Mạch Chứng. Nhưng lần đầu tiên, con đường từ cựu chú “người không nên sống” đã chạm vào một vật hắn từng tận mắt thấy, chứ không chỉ một câu nói giống nhau.

Hắn lấy tay trái kéo tờ trắng lại. Hai ngón giữa vẫn chậm, nên nét bút đầu tiên không đẹp. Tạ Huyền vẫn viết đủ phạm vi: “Xin thác ảnh vật chứng của mã đối hai. Chỉ hình thái và tỷ lệ. Che nơi lấy, người lấy, chủ danh, niên khoản nguồn.”

Nữ quản lục đọc xong, không nhận ngay. Nàng đặt ngón tay lên dòng “thác ảnh”, nói nhỏ: “Ta nhắc trước. Nếu bản rập đúng là thứ ngươi từng thấy, nó chỉ chứng minh cùng vật hoặc cùng khuôn dấu. Nó không chứng minh người trong Mạch Chứng là người để lại máu.”

“Ta biết.”

“Cũng không chứng minh câu ‘người không nên sống’ ở nơi ngươi nghe là từ Cựu Bạ.”

“Ta biết.”

Nàng mới cầm đơn.

Cánh cửa y xá khép lại lần nữa. Tạ Huyền nhìn ba mắt xích trên bàn, rồi nhìn khoảng trống nơi bản rập sẽ được đặt nếu yêu cầu được duyệt. Trong trí nhớ hắn, trên lớp đá xám dưới Huyền Thạch, vệt máu đen đã khô từ lâu vẫn dừng đúng ở cuối một rãnh nông. Khi ấy hắn tưởng đó chỉ là dấu tích của một người từng dùng máu và thanh kiếm để giữ một cánh cửa.

Bây giờ, Mạch Chứng Cựu Bạ nói rằng một vết máu trên cửa đá từng được lấy làm lần đối thứ hai.

Nếu bản rập trong Thư Các trùng với mốc máu hắn đã thấy, bí mật cần hỏi tiếp sẽ không còn là “người không nên sống” nghĩa là gì.

Mà là: ai đã mang vết máu từ cánh cửa ấy vào hồ sơ của một người vô danh?