Bỏ qua nội dung

Chương 382: Người Không Nên Sống - Thư Các Cổ Văn

Cánh cửa y xá khép lại sau lưng nữ quản lục, nhưng Tạ Huyền không lập tức kéo mẫu mới tới. Lời cảnh báo cuối cùng của nàng vẫn nằm rất rõ trong đầu hắn: bảng phân mục cũ và bảng chuyển chuẩn hiện hành không đặt “nghịch hồi” ở cùng một vị trí. Nếu chỉ nhìn một chữ giống nhau rồi điền theo bảng mới, hậu tự của ngoại dẫn sẽ bị giải sang nhánh khác. Hắn đặt bản biên nhận ở bên trái, phiếu y vụ ở bên phải, chừa khoảng trống giữa hai tờ như Cốt Luận vừa làm. Sau đó mới lấy một tờ trắng, viết ở đầu bằng tay trái: “Đối mã – chỉ giải hậu tự cựu phân nhánh.” Y quan đang kiểm lại dây nẹp tay phải liếc qua. “Không tự mang đi.” Tạ Huyền đáp: “Ta biết.” Hắn dừng bút một nhịp rồi thêm bốn chữ vào phạm vi: “không hồi chủ danh.”

Nam tu tóc hoa râm của Cốt Luận đọc hết mẫu trước khi gật đầu. “Thêm một điều. Phải ghi rõ lấy bảng có hiệu lực tại thời điểm đầu dẫn được lập, không lấy bảng quy đổi sau hỏa.” Tạ Huyền sửa ngay. Phần yêu cầu cuối cùng chỉ còn ba việc: xác nhận bản phân mục gốc dùng để giải mã, đọc nghĩa của hậu tự, và đọc quy tắc cấu trúc gắn trực tiếp với hậu tự đó. Không xin nội dung mục Mạch Chứng, không xin người được chứng, không xin giá trị của tư cách nhận. Tiểu lại y xá cầm đơn rời đi. Tạ Huyền tựa lưng xuống gối. Đầu gối trái vẫn căng dưới túi thuốc lạnh, hai ngón giữa tay trái cứng nhẹ sau một buổi viết quá nhiều. Hắn không vận khí để xua cảm giác đó. Một dữ kiện sạch đáng giá hơn vài dòng nhanh hơn.

Lần này họ chờ lâu hơn. Cốt Luận không đặt thanh ngọc lên bàn nữa; lần tự xuất vừa rồi đã được ghi đủ, cố chờ thêm một lần chỉ để thỏa tò mò không có ý nghĩa. Y quan cũng không cho Tạ Huyền co duỗi ngón liên tục để “xem có lạnh lại không”. Khoảng nửa khắc sau, nữ quản lục trở lại cùng một bìa mỏng màu nâu nhạt. Nàng đặt nó xuống nhưng chưa mở. “Đối mã được duyệt. Phạm vi vẫn như đơn: chỉ giải hậu tự và quy tắc trực tiếp của mã. Không mở mục nguồn.” Tạ Huyền gật đầu. “Bản nào?” “Bản phân mục còn hiệu lực tại năm lập đầu dẫn, trước lần hợp chuẩn sau hỏa.” Nàng nhìn hắn. “Nếu dùng bảng hiện hành, ký hiệu đầu tiên sẽ rơi vào ‘nghịch hồi’. Bảng cũ thì không.”

Nữ quản lục mở bìa. Bên trong không phải cả bảng phân mục mà chỉ là một bản trích ba hàng đã che các cột không thuộc quyền. Hậu tự của mã gốc được chép thành hai dấu nối nhau, giữa có một chấm nhỏ. Tạ Huyền trước đó vẫn tưởng đó là một hậu tự duy nhất. Dòng giải thứ nhất ghi: dấu trước thuộc trường “hướng – hồi”, theo bản cũ là “đoạn hồi”. Dòng thứ hai ghi: dấu sau thuộc “số đối”, nghĩa là “tồn hậu, đối ba”. Không có chữ “nghịch hồi” nào trong kết quả. Tạ Huyền nhìn đủ lâu để chắc mình không đọc nhầm rồi mới hỏi: “Đoạn hồi ở cựu chuẩn được định thế nào?” Nữ quản lục lật một tờ che khác. “Ta chỉ được đọc định nghĩa loại, không đọc trường hợp cụ thể. Đoạn hồi: trong phép đối đã lập, đường linh tức mất phần trở về liên tục trước khi hoàn tất chu kỳ chuẩn. Không đồng nghĩa đứt kinh mạch, càng không đồng nghĩa tử chứng.”

Cốt Luận khẽ gõ đầu ngón tay lên mép giường. “Vậy đã khác hiện tượng hiện tại của hắn.” “Khác.” Tạ Huyền nói trước. Luồng lạnh trong tay trái của hắn có hướng trở ngược và chậm một nhịp; nó chưa từng được ghi là mất đường hồi hoàn toàn. Một bên là “nghịch hướng” trong quan sát y vụ hiện tại, một bên là “đoạn hồi” của cựu chuẩn. Nếu hắn muốn chứng minh hai thứ giống nhau, kết quả vừa rồi không giúp, thậm chí còn bắt hắn lùi lại một bước. Nhưng lùi đúng còn hơn tiến sai. Hắn chỉ vào dấu thứ hai. “Tồn hậu, đối ba?”

Nữ quản lục đọc nguyên phần chú giải được phép giữ: “Sau điểm mà phép đối xác định đường hồi đã đoạn, nếu linh tức còn lưu được qua các lượt đối kế tiếp thì ghi tồn hậu. ‘Đối ba’ nghĩa là trạng thái này đã đi đến lần đối thứ ba theo quy cách của cùng loại chứng.” Nàng dừng một chút rồi kéo tờ trích xuống thấp hơn. Ở mép dưới có một dòng chữ cũ nhỏ hơn, nét mực đã được người sau chú âm lại: “Mạch đoạn, nhân tồn; bất ứng sinh.” Y quan đang thay khăn lạnh bỗng ngẩng đầu. Cốt Luận cũng không nói gì ngay. Tạ Huyền đọc dòng ấy lần thứ hai. Nữ quản lục chủ động giải thích trước khi hắn hỏi: “Đây là cựu chú, không phải phán tử. Dịch thô sang cách nói bây giờ là: mạch theo phép đối đã tới chỗ không nên còn, nhưng người vẫn tồn. Người xưa gọi tắt là ‘người không nên sống’.”

Bốn chữ cuối như một vật rất nhẹ rơi xuống mặt bàn, nhưng Tạ Huyền cảm thấy rõ hơn cả tiếng động. Dưới Huyền Thạch, phía sau lớp đá xám, một giọng nói từng gọi đúng tên hắn rồi nói: “Ngươi là người không nên sống.” Ở Tế Mạch Đường, y sĩ cũng từng dùng gần như cùng một cách nói khi nhìn bản chẩn của A Mộc: theo ngưỡng ban đầu, đứa trẻ ấy không nên sống tới lúc đó. Hai lần, hai hoàn cảnh, hai ý nghĩa chưa từng được chứng minh là cùng nguồn. Bây giờ trong Mạch Chứng Cựu Bạ lại xuất hiện một cựu chú thật sự dùng chính cách gọi ấy. Tạ Huyền không kể lại ký ức dưới Huyền Thạch. Hắn chỉ hỏi: “Cụm này có phải danh xưng riêng của một nhánh không?”

“Không.” Nữ quản lục đáp ngay. “Là lời chú thích cũ cho nhóm trường hợp có kết quả trái với ngưỡng tồn tại dự kiến. Sau khi đổi chuẩn, cách nói này bị bỏ vì dễ bị hiểu thành phán người phải chết.” Cốt Luận nói: “Nghĩa là gặp cùng một câu không cho phép nối cùng một cơ chế.” “Đúng.” Tạ Huyền nhìn phiếu y vụ bên phải rồi nhìn bản trích bên trái. “Ta hiện có hồi lưu nghịch hướng chậm một nhịp. Ngoại dẫn thì giải ra đoạn hồi – tồn hậu, đối ba. Cựu chú ‘người không nên sống’ chỉ mô tả việc kết quả sống còn vượt khỏi ngưỡng dự kiến của phép đối. Ba điều đó đứng riêng.” Nam tu tóc hoa râm gật đầu. “Giữ như vậy.”

Y quan dùng ngón tay ấn nhẹ lên mu bàn tay trái của Tạ Huyền, kiểm độ ấm từng ngón. “Không lạnh lại.” “Ta cũng không thấy.” “Vậy đừng chờ nó lạnh.” Ông kéo tay hắn về đúng vị trí trên chăn. Tạ Huyền không phản đối. Sự trùng lặp của một câu nói đủ để khiến người ta muốn thử ngay xem cơ thể mình có tái hiện hiện tượng hay không. Nhưng nếu hắn tự kích mạch lúc này, bất kỳ kết quả nào cũng sẽ bị trộn với can thiệp. Hắn quay lại bản trích. “Đối ba có cho biết ba lần diễn ra lúc nào không?” Nữ quản lục lắc đầu. “Không trong phạm vi này. Hậu tự chỉ chứng minh số đối đã tới ba và trạng thái tồn hậu được giữ. Muốn biết trình tự thời gian phải tra ‘đối số lịch’ của mã gốc.”

“Có cần chủ danh?” Tạ Huyền hỏi. “Không nhất thiết.” Nàng đáp. “Đối số lịch là sổ cấu trúc, ghi ngày đối, loại phép và mã nối. Chủ danh có thể bị che nếu yêu cầu chỉ truy chuỗi kỹ thuật. Nhưng ngươi phải xin riêng.” Câu trả lời làm khoảng trống trên bàn thay đổi hình dạng lần nữa. Đầu dẫn chứng minh tư cách nhận không phải một kết quả đọc một lần. Theo mã cũ, nó đã được giữ tới lần đối thứ ba. Dù chưa biết người đó là ai, ít nhất có một trạng thái mạch bất thường đã được xác nhận lặp lại đủ để trở thành chứng cứ hành chính. Tạ Huyền hỏi: “Nếu lần một và lần hai còn mã nối, chúng có dùng cùng mã gốc?” “Phần gốc giống nhau. Hậu tự thay theo kết quả từng lần.”

Nữ quản lục lật bản trích sang mặt sau. Ở góc dưới có ba ô nhỏ, hai ô đầu đã bị che nội dung nhưng vẫn hiện đường khung; ô thứ ba mang đúng hậu tự họ vừa giải. Nàng chỉ cho hắn nhìn cấu trúc, không mở chữ. “Đây là lý do ‘đối ba’ không phải cách nói ước lượng. Trong hệ cũ, lần đối thứ ba có ô riêng và phải có hai mắt xích trước đó mới hợp lệ.” Tạ Huyền nhìn hai ô bị che. Hắn không xin mở chúng. Chỉ hỏi: “Muốn biết hai mắt xích trước thuộc nhánh nào, ta xin đối số lịch, vẫn cấm chủ danh?” “Được. Nhưng chỉ nếu người duyệt chấp nhận rằng việc đó còn nằm trong mục đích đối tư cách hiện tại.”

Tạ Huyền khép mắt một nhịp rồi mở ra. Hắn đã nghe câu “người không nên sống” ở những nơi quá khác nhau để coi nó là ngẫu nhiên vô nghĩa, nhưng cũng chính vì vậy càng không thể lấy câu chữ làm cầu nối. Bằng chứng thật hiện tại hẹp hơn nhiều và cũng chắc hơn nhiều: ngoại dẫn của phía nhận thuộc Mạch Chứng Cựu Bạ; hậu tự theo đúng bảng cũ là “đoạn hồi – tồn hậu, đối ba”; cựu chú của loại trạng thái này từng dùng cách nói “người không nên sống”. Còn người trong mục là ai, ba lần đối diễn ra ở đâu, có liên quan gì tới hắn, A Mộc hay bất kỳ dị mạch nào khác – tất cả vẫn để trống. Nữ quản lục thu tờ giải nghĩa vào bìa, chỉ để lại bản xác nhận ba dòng được phép giữ. Trước khi rời y xá, nàng nói: “Nếu muốn đi tiếp, đừng xin mục người. Xin chuỗi đối.”

Cánh cửa khép lại. Trên bàn, hai ô đầu của chuỗi đối vẫn chỉ tồn tại trong trí nhớ Tạ Huyền như hai khung trống bị che. Không có tên, không có chân dung, không có lời giải về Thiên Mệnh Cốt. Chỉ có một người vô danh từng được đối chứng tới lần thứ ba cho một trạng thái mà cổ nhân ghi bên lề bằng bốn chữ lạnh lẽo: người không nên sống. Tạ Huyền đặt ngón trỏ tay trái lên dòng “đối ba”, không chạm vào phiếu y vụ bên cạnh. Muốn biết vì sao một kẻ “không nên sống” lại đủ tư cách đứng ở phía nhận của lời thề, bước kế tiếp không phải tìm tên. Là tìm hai lần đối trước đó.