Chương 349: Gió Lạnh Qua Xương - Đấu Trường Tân Sinh
Mũi thương của Triệu Hành đã tới trước khi Tạ Huyền rời mắt khỏi thẻ chú ký phía đông. Không còn vòng thương thăm dò, cũng không còn khoảng mở ở khuỷu tay để hắn cân nhắc. Mũi thương đi ngắn, thẳng vào vùng giữa ngực và vai trái, vừa đủ buộc hắn phải phản ứng mà không cho thời gian đổi cự ly. Tạ Huyền hạ đầu côn chéo xuống, không dùng lực cứng chặn lại. Thân côn tiếp xúc với cán thương rồi trượt theo góc xiên, dẫn lực xuống mặt đài. Cùng lúc đó, chân phải hắn dịch dọc theo biên vôi nửa bước, chân trái chỉ kéo theo gần thẳng, không xoay gối. Mũi thương lướt qua trước ngực chưa đầy gang tay. Một luồng gió lạnh từ khoảng trống giữa hai mái đài quét ngang, xuyên qua lớp áo mỏng, khiến những đốt ngón tay trái đang nắm côn buốt lên như bị gió lùa qua xương.
Triệu Hành không để hắn ổn định. Đòn thứ hai nối ngay từ thế thu, lần này mũi thương hạ thấp rồi bật lên, ép Tạ Huyền phải chọn giữa nhấc côn quá vai hoặc lùi thêm. Hắn vẫn chọn lùi ngang. Côn dựng như một thanh chống, đầu dưới chạm đài trước khi thân người dịch đi. Cách đó chậm hơn một bước né hoàn chỉnh, nhưng lực chịu ở đầu gối trái ít hơn hẳn. Triệu Hành nhìn thấy điều ấy và lập tức đổi tay sau lên gần thêm một đoạn. Trường thương dài bị hắn thu ngắn trong tay, từ binh khí giữ người ngoài tầm biến thành những đường thẳng liên tục chọc vào khoảng hẹp. Tạ Huyền không tìm sơ hở nữa. Đối thủ đã biết hắn biết; mọi khoảng trống dễ thấy lúc này đều có thể là mồi.
Sau ba lượt, hắn bắt đầu nhìn chân Triệu Hành thay vì nhìn mũi thương. Trường thương càng bị thu ngắn, thân người cầm thương càng phải tiến sâu để giữ uy lực. Mỗi lần Triệu Hành đánh hai đòn ngắn rồi đổi tuyến sang bên phải, chân trước của hắn luôn tiến thêm gần nửa bàn chân, còn chân sau phải theo lên để tránh cán thương bị kẹt sát hông. Đó không phải sơ hở. Nếu Tạ Huyền còn đủ hai tay và hai chân lành, hắn có thể dùng nó để chen vào thân thương. Hiện tại, hắn không cần chen. Hắn chỉ cần ghi nhớ đối thủ buộc phải đứng ở đâu sau mỗi chuỗi ba nhịp.
Biên đài sau lưng vốn là thứ Triệu Hành dùng để ép hắn. Tạ Huyền bắt đầu dùng chính đường vôi ấy làm thước. Hắn không lùi thẳng nữa mà dịch sang phải từng đoạn gần bằng nhau, mỗi lần chỉ đủ để mũi thương trượt qua một góc áo. Đầu côn luôn chạm mặt đài trước chân trái, biến cây côn thành điểm tựa thứ ba để giảm tải ở đầu gối khi đổi hướng. Hai lần đầu, Triệu Hành theo rất tự nhiên. Đến lần thứ ba, hắn hiểu Tạ Huyền đang xoay trục giao đấu dọc theo biên và lập tức cắt chéo sang phải, định khóa hướng duy nhất còn lại. Tạ Huyền không bất ngờ. Đối thủ có ba thắng không thể bị dẫn quanh đài mà không nhận ra. Điều hắn cần là buộc Triệu Hành sau khi nhận ra vẫn phải chọn một cách chặn có thể tính trước.
Mũi thương thứ tư đổi thành một cú giả đâm. Thân thương vừa chạm côn đã rút nửa tấc, đầu sau xoay ngang quét vào khoảng vai và cổ. Tạ Huyền hạ thấp trọng tâm theo bản năng rồi dừng ngay trước khi đầu gối trái gập sâu. Hắn chống côn xuống đài, dồn lực qua chân phải và nghiêng người ra ngoài tuyến thương. Đầu sau của trường thương quét qua tóc mai. Khoảnh khắc tránh được, hai ngón giữa tay trái bỗng chậm đi một nhịp. Không phải mất lực thật, cũng chưa có tê lan khỏi vùng cũ, nhưng độ chậm đủ để hắn nhận ra. Tạ Huyền lập tức nới tay, để thân côn nằm sâu hơn vào hõm giữa ngón cái và lòng bàn tay thay vì khóa bằng hai ngón giữa. Y quan bên đài đã đứng dậy nửa bước. Tạ Huyền mở rồi khép hai ngón đúng một lần khi cự ly vừa tách ra. Chúng vẫn đáp lại, chậm nhưng chưa rơi khỏi mức hắn vừa đo buổi sáng. Y quan không hô dừng, ánh mắt vẫn khóa chặt vào bàn tay hắn.
Triệu Hành thấy cả động tác ấy. “Sắp chạm giới hạn?” hắn hỏi, nhưng mũi thương không chậm. Tạ Huyền dùng thân côn đỡ xiên, lùi thêm một đoạn dọc biên. “Chưa.” “Vậy ta sẽ ép ngươi tới đó.” Triệu Hành đáp rất bình thản. Hắn không công kích vào tay trái một cách vụng về, cũng không cố đập mạnh vào đầu gối. Thay vào đó, hắn tăng tốc chuyển tuyến để bắt Tạ Huyền phải đổi hướng liên tục. Đây mới là cách tận dụng thương hạn của một người biết đánh: không nhắm vào vết đau, mà nhắm vào số lần cơ thể bị buộc phải dùng phần đang đau.
Tạ Huyền chịu thêm năm nhịp. Mỗi nhịp hắn đều lùi ngang gần như nhau. Tiếng côn và thân thương va nhau không lớn; phần lớn lực đã bị hắn dẫn xuống mặt đài hoặc để trượt khỏi thân côn. Bù lại, khoảng cách giữa hắn và góc đài phía bắc giảm dần. Người dưới đài bắt đầu tưởng Triệu Hành đã khóa hắn vào góc chết. Chính Triệu Hành cũng không hoàn toàn tin như vậy. Đến trước góc đài hai bước, hắn không tiến chân trước như chuỗi cũ mà đổi thành bước chéo, giữ chân sau ở trong để đề phòng bị dẫn ra biên. Tạ Huyền nhìn thấy sự sửa đổi ấy và hiểu phần dễ nhất của kế hoạch đã hết. Nếu tiếp tục lặp, người bị dồn thật sự sẽ là hắn.
Triệu Hành đâm một thương thẳng vào giữa thân. Tạ Huyền nghiêng côn dẫn xuống. Cùng khoảnh khắc mũi thương chạm lệch, Triệu Hành đột ngột thu tay sau, dùng phần chuôi thương thúc ngược lên. Một dài một ngắn nối nhau, không cho đối thủ đổi khoảng cách bằng cùng một cách. Tạ Huyền không thể xoay đầu gối trái để né sâu vào trong, cũng không thể siết côn bằng hai ngón giữa để khóa cán thương. Hắn bỏ cả hai lựa chọn. Đầu côn được cắm xuống sát đường vôi, thân côn tì chéo qua lòng bàn tay trái và cạnh cẳng tay như một thanh nẹp. Hắn dùng chân phải làm trục, kéo cả thân người quanh điểm chống của cây côn. Chân trái chỉ dịch một đoạn ngắn theo đường thẳng. Chuôi thương sượt qua trước ngực, còn Tạ Huyền đã từ vị trí bị ép sát góc chuyển sang đứng chếch bên hông Triệu Hành.
Đó vẫn chưa phải đường thắng. Triệu Hành phản ứng rất nhanh, lập tức xoay cổ tay, kéo thương về ngang thân để quét Tạ Huyền ra ngoài. Nhưng vì vừa thu ngắn trường thương và đổi hướng liên tiếp, tay sau của hắn đang ở quá gần thân trước. Tạ Huyền không đánh vào người. Hắn đặt thân côn lên cán thương, ép xuống theo đúng hướng Triệu Hành đang thu về, chỉ thêm một lực rất nhỏ bằng vai và lòng bàn tay. Nếu Triệu Hành cố giữ nguyên chân, cán thương sẽ tự chặn ngang hông hắn. Nếu buông cán, hắn mất binh khí. Nếu bước, hắn phải bước theo hướng mà Tạ Huyền đã tính từ đường vôi dưới chân.
Triệu Hành chọn bước. Chân trước hắn lùi nửa bước để mở chỗ cho cán thương, chân sau lập tức dịch theo. Hắn vừa đặt xuống đã nhận ra khoảng trắng phía dưới gót không còn là mặt đài xám mà là mép vôi. Cơ thể hắn dừng cứng trong một nhịp, rồi cố kéo chân trở lại. Tạ Huyền không cho lực ép tăng thêm, cũng không tranh cơ hội dùng côn quét ngã. Hắn chỉ giữ đúng góc cán thương, buộc Triệu Hành phải tự giải thế bằng bước chân. Bàn chân sau của Triệu Hành trượt thêm nửa tấc, vượt hẳn khỏi đường biên. Giám đài hạ tay ngay lập tức. “Dừng.”
Cả hai cùng thu binh khí. Không có tiếng va cuối cùng, cũng không có cảnh một người bị đánh ngã. Triệu Hành cúi nhìn dấu chân mình ngoài vạch, rồi nhìn lại vị trí Tạ Huyền vừa đứng. Từ đầu trận, người bị ép sát biên là Tạ Huyền. Đến lúc kết thúc, đường biên lại nằm dưới gót Triệu Hành. Hắn im lặng vài nhịp mới nói: “Ngươi không tìm sơ hở của ta.” Tạ Huyền thả lỏng bàn tay trái, để máu trở lại các đầu ngón. “Ta có tìm. Nhưng không có cái nào ta lấy được mà không trả quá giá.” “Nên ngươi tính bước chân?” “Tính thứ cả hai đều phải dùng.” Triệu Hành bật ra một tiếng cười rất ngắn, không có ý chế giễu. “Ba thắng của ngươi không nhẹ.” Tạ Huyền đáp: “Của ngươi cũng vậy.”
Y quan gọi hắn xuống ngay khi giám đài xác nhận kết quả. Không có lời chúc mừng. Tạ Huyền phải ngồi vào ghế thấp, làm lại hai mục nhanh theo đúng điều kiện giám chứng. Hai ngón giữa lần đầu co chậm hơn lúc sáng nhưng vẫn chưa thấp hơn mốc nền đã ghi; sau mười nhịp nghỉ, độ chậm giảm một chút. Chân trái nóng rõ hơn, song khi chịu tải thẳng tối thiểu vẫn giữ trục và không có lần mất lực thật. Y quan ghi: “Sau thực chiến: sát ngưỡng tay, chưa vượt; chân nóng tăng, chưa mất lực.” Ông ta gập thẻ lại. “Ngươi còn quyền thi đấu, nhưng không liên chiến. Nghỉ ít nhất một lượt, tái kiểm trước khi nhận ghép tiếp.” Tạ Huyền gật đầu. Hắn đã thắng, nhưng chiến thắng không biến cơ thể thành lành lặn.
Khi hắn đứng dậy, gió bắc lại quét qua mặt đài. Cảm giác lạnh men theo các đốt xương tay trái rồi tan dần khi hắn co mở ngón. Tạ Huyền không tự gán nó cho dị hồi, càng không coi đó là dấu hiệu của bất kỳ bí mật nào. Hắn chỉ nhớ thời điểm, mức tê và độ chậm, rồi báo nguyên văn cho y quan. Người kia ghi thêm hai chữ “theo dõi”, không kết luận. Ở bàn ghép, chấp sự chuyển thẻ số của Tạ Huyền từ hàng hai thắng sang hàng ba thắng, đặt cạnh tên những người đã vượt qua ít nhất ba trận. Thứ tự tiếp theo vẫn phải chờ, không có đặc cách vì hắn vừa thắng Triệu Hành.
Phía đông, giám tuyển cầm thẻ chú ký lên. Dòng “Thắng thế bỏ qua — chủ động” vẫn còn ở giữa mặt thẻ. Bên dưới, người ấy viết thêm rất chậm: “Đổi biên thành thước — không vượt hạn.” Tạ Huyền chỉ kịp thấy sáu chữ đầu khi đi ngang, rồi không nhìn nữa. Nhưng trước khi thẻ được đặt về chồng chung, một chấp sự áo xám từ bàn trong bước ra, đưa tay chặn lại. Hắn không nói tên Tạ Huyền, cũng không hỏi về thương thế. Chỉ dùng đầu ngón tay gõ lên mép thẻ hai lần rồi nói nhỏ: “Thẻ này để riêng.” Gió lạnh lướt qua khoảng trống giữa hai người, mỏng như một lưỡi dao không có cạnh. Tạ Huyền đã đi xa ba bước, nhưng câu nói ấy vẫn lọt vào tai hắn. Hắn không quay đầu. Ba thắng chỉ vừa mới bắt đầu có trọng lượng.
