Chương 3: Tội Danh Của Mẫu Thân
Ủng hộ Lăng Kính Truyện
Mở ưu đãi một lần để tiếp tục đọc. Thông báo này chỉ hiện lại sau 4 giờ.
Mở ưu đãi và tiếp tục đọcChương 3: Tội Danh Của Mẫu Thân
Cửa sau khép lại, từ đường lại chỉ còn tiếng gió luồn qua khe gỗ và mùi hương tàn lạnh ngắt. Ta ngồi rất lâu, lâu đến mức câu nói của Tạ Vân Chi tưởng như đã tan vào bóng tối, rồi lại chậm rãi rơi xuống lòng bàn tay ta: ngươi là người còn sống. Một câu đơn giản như vậy, nếu đặt ở đời trước, có lẽ ta chỉ xem là lời an ủi trẻ con. Nhưng trong thân thể mười hai tuổi đang sốt, đầu gối sưng đau, bụng vẫn rỗng hơn no này, nó lại giống một ngọn đèn nhỏ bị ai đặt dưới án thờ, không đủ sưởi ấm cả gian phòng, nhưng đủ để người ta nhìn thấy chỗ mình đặt chân.
Ta mở túi thuốc Tạ Vân Chi để lại, chia một nửa bột thuốc hòa với chút nước lạnh trong chén. Thuốc đắng đến mức lưỡi tê đi, nhưng đắng là thứ rất thành thật. Nó không giống lời người trong Lục gia, càng lễ nghĩa càng khó biết bên trong giấu dao hay giấu dây thừng. Ta bôi cao lên đầu gối, đau đến mức suýt bật hơi, đành cúi đầu cắn miếng bánh quế còn lại. Bánh đã nguội, mùi quế nhạt hơn ban nãy, nhưng trong từ đường này, một miếng bánh nguội cũng xa xỉ như có người đem mùa xuân nhét vào tay áo.
Đêm ấy ta không ngủ sâu. Mỗi khi mí mắt nặng xuống, thân thể này lại run lên vì lạnh hoặc vì ký ức cũ. Trong những mảnh vỡ hỗn loạn, ta nghe thấy tiếng nữ nhân ho rất khẽ, tiếng cửa bị đóng sầm, tiếng ai đó nói hai chữ Tô Diên bằng giọng vừa sợ vừa ghét. Ta không nhìn thấy khuôn mặt nàng, chỉ thấy một bàn tay trắng gầy đẩy ta vào sau rèm, lòng bàn tay ấy lạnh hơn cả nền đá dưới gối ta. Ký ức của đứa trẻ này giống sổ sách bị xé mất nhiều trang, càng muốn đối chiếu, khoảng trống càng lớn.
Đến gần sáng, bên ngoài có tiếng người quét sân. Chổi trúc quệt trên nền đá, đều đều, lạnh lùng. Hai hạ nhân đứng dưới mái hiên nói chuyện, có lẽ tưởng người trong từ đường sốt đến mê man, hoặc có nghe thấy cũng không đáng để tránh. Một người hạ giọng: “Đêm qua còn thở thật à? Ta còn tưởng loại sinh ra từ bụng Tô Diên không chịu nổi một đêm lạnh.” Người kia cười nhạt: “Máu thông địch mà, mạng dai lắm. Nếu không phải lão gia còn giữ chút thể diện, loại này sớm bị đưa ra khỏi gia phả rồi.”
Tay ta đặt trên giấy gia quy, đầu ngón tay từ từ siết lại. Tô Diên. Thông địch. Hai chữ sau giống than đỏ rơi xuống ký ức vụn vỡ, vừa chạm đã bốc lên mùi đau đớn. Đời trước ta từng xử lý không ít cuộc khủng hoảng trong thương trường, biết lời đồn có thể được gieo như hạt thóc: rắc xuống đúng chỗ, gặp người lười suy nghĩ, tự nhiên mọc thành ruộng. Nhưng chưa có cuộc khủng hoảng nào bỉ ổi bằng việc đem tội danh của người chết treo lên cổ một đứa trẻ, để hắn lớn lên trong tiếng nhổ nước bọt của mọi người.
Ta rất muốn mở cửa ra hỏi bọn họ: các ngươi tận mắt thấy sao? Có văn thư nào không? Ai kết án, năm nào kết án, tang vật ở đâu? Nhưng cơn giận của một đứa trẻ bị giam trong từ đường không đáng một xu. Cửa còn khóa, người cầm chìa không phải ta. Ta chỉ có thể ghi nhớ giọng nói, ghi nhớ cách hai hạ nhân ấy nói đến Tô Diên tự nhiên như nói đến một cái áo bẩn bị vứt dưới mương. Danh dự của người chết bị chà đạp nhiều năm, đến mức người sống xem chuyện giẫm thêm một chân là việc thuận miệng.
Khi mặt trời chưa lên hẳn, then cửa chính bị kéo mạnh. Gã sai vặt trẻ tuổi hôm qua bước vào trước, phía sau là một quản sự mặc áo nâu sẫm, mặt dài, mắt nhỏ, tay cầm một tờ giấy đã viết sẵn. Gã sai vặt liếc ta từ đầu đến chân, thấy ta vẫn ngồi bên hộp gia quy, môi khô, sắc mặt tái, liền cười một tiếng như rất tiếc vì chưa được nhặt xác. Quản sự thì khác. Ông ta không cười, nhưng cái không cười ấy còn lạnh hơn. Người quen làm việc dưới tay chủ tử thường có một thứ tự tin rất lạ: bản thân chỉ là cây gậy, nên khi đánh người cũng tưởng mình vô tội.
“Tam công tử,” quản sự nói, hai chữ công tử được đặt xuống như đặt một cái bát mẻ lên bàn thờ, “nhị lão gia thương ngươi còn nhỏ, không muốn làm lớn chuyện. Chỉ cần hôm nay ngươi quỳ trước bài vị tổ tiên, nhận rằng bản thân bất hiếu, nhận mẫu thân ngươi làm ô danh môn phong, sau này ở từ đường tĩnh tâm sửa tính, mọi người đều có bậc thang để xuống.”
Ta nhìn tờ giấy trong tay ông ta. Mực còn khá mới, mép giấy hơi cong vì vừa hong qua lửa. Không có dấu của gia chủ, không có chữ ký của trưởng phòng, càng không có văn thư quan phủ. Một tờ giấy như vậy, nếu người lớn đọc, chỉ là lời ép buộc miệng. Nhưng nếu một đứa trẻ mười hai tuổi quỳ trước tổ tiên đọc ra, nó sẽ biến thành một chiếc đinh. Sau này ai muốn đuổi ta khỏi gia phả chỉ cần nói: chính hắn đã nhận, chính hắn đã thừa nhận mình là con của tội phụ.
Ta cụp mắt, để vai rũ xuống đúng dáng vẻ của một đứa trẻ bệnh nặng bị dọa sợ. “Nhị lão gia muốn ta nhận sai điều gì?” Ta hỏi. Giọng ta khàn, nghe rất mềm, mềm đến mức gã sai vặt lập tức mất kiên nhẫn. “Còn hỏi? Mẹ ngươi là Tô Diên, năm đó làm chuyện mất mặt, ngươi còn có mặt mũi sống trong Lục gia đã là nhờ tổ tiên khai ân. Bảo ngươi nhận thì nhận, chẳng lẽ còn muốn lật án cho ả?”
Chữ “ả” vừa ra khỏi miệng hắn, trong ngực ta đau nhói. Không phải cơn đau của ta. Là thân thể này. Đứa trẻ cũ có lẽ không nhớ rõ mẹ mình đã ôm hắn bao nhiêu lần, nhưng nó nhớ cách người khác gọi mẹ nó. Vết thương của trẻ con đôi khi không nằm ở chuyện bị đánh, mà nằm ở việc nó biết rõ mình không được phép đau. Ta cúi đầu ho mấy tiếng, một nửa là thật, một nửa để ép cơn giận xuống. Người sống phải biết chọn lúc mở miệng. Đây là bài học nhập môn thứ hai sau thức ăn.
“Tội thông địch là trọng tội.” Ta nói rất chậm. “Con cháu trong nhà không dám tự ý thêm bớt trước mặt tổ tiên. Nếu có văn thư quan phủ hoặc lệnh của gia chủ, Hoài Tranh không dám không nghe. Nếu không có…” Ta ngẩng mắt nhìn quản sự, vừa đủ sợ, vừa đủ nguội lạnh. “Một hạ nhân bảo ta định tội người chết trước bài vị Lục gia, ta sợ nói sai một chữ sẽ kinh động tổ tông.”
Gian từ đường yên xuống trong chớp mắt. Gã sai vặt trợn mắt, hiển nhiên không ngờ một đứa trẻ bị nhốt một đêm còn biết lấy tổ tông ra chặn miệng người. Quản sự nhìn ta lâu hơn. Ánh mắt ông ta không còn chỉ là khinh miệt, mà có thêm một chút cân nhắc. Ta biết mình vừa bước lên một sợi dây rất mảnh. Nếu mềm quá, bọn họ sẽ đóng tội danh lên người ta. Nếu cứng quá, họ sẽ phát hiện đứa trẻ này không giống trước. Vậy nên ta cúi đầu thêm một chút, để mồ hôi lạnh trên trán rơi xuống giấy chép gia quy, nhìn thế nào cũng chỉ là kẻ bệnh đến mê sảng mà vẫn bám lấy lễ nghĩa.
Quản sự đặt tờ giấy lên án phụ, giọng trầm xuống: “Tam công tử nói cẩn thận như vậy, xem ra một đêm tĩnh tâm quả thật có ích. Nhưng người có tội mà không biết cúi đầu thì vẫn phải học tiếp. Ngươi không muốn đọc, vậy chép. Chép đến khi nào hiểu vì sao Lục gia còn cho ngươi một chỗ quỳ.” Ông ta quay sang gã sai vặt. “Đưa sang gian bên. Không cần đưa cơm sáng. Trước giờ Ngọ, nếu thiếu một trang, báo lại nhị lão gia.”
Gã sai vặt bước tới kéo ta dậy. Đầu gối vừa rời khỏi nền đá đã đau đến trước mắt tối sầm, nhưng ta không chống cự. Chống cự lúc này chỉ làm họ vui hơn. Ta để hắn lôi qua hành lang ngắn bên phải từ đường. Nơi ấy vốn là gian chứa hương nến, bài vị cũ và những thứ không còn ai muốn nhìn thấy. Cửa vừa mở, mùi giấy mục, tro hương và gỗ ẩm xộc vào mặt. Có lẽ trong Lục gia, thứ gì không tiện vứt đi đều được nhét vào đây, bao gồm cả ta.
Gã sai vặt ném hộp giấy và bút xuống chiếc bàn thấp gần cửa, rồi đá một cái vào đống rương gỗ chắn lối cho hả giận. Một chiếc rương mục bị lệch khỏi vị trí, nắp hé ra, vài quyển sổ bọc vải dầu bên trong lộ một góc xám đen. Hắn không để ý, chỉ chỉ vào bàn: “Chép đi. Đừng tưởng biết nói vài câu là mình sạch được. Con của tội phụ thì vẫn là tội phụ nhỏ.” Nói xong, hắn đóng cửa lại, khóa từ bên ngoài. Tiếng khóa rơi xuống khô khốc, rất hợp với buổi sáng hôm nay.
Ta ngồi yên một lúc, nghe bước chân hắn xa dần rồi mới thở ra. Lưng áo đã ướt lạnh. Cái giá của mấy câu vừa rồi không nhỏ: nhị lão gia sẽ biết ta không còn dễ bị ấn đầu như trước. Nhưng ít nhất hôm nay trước bài vị tổ tiên, ta chưa tự tay đóng thêm một chiếc đinh vào tên Tô Diên. Ta cúi xuống nhặt bút, ánh mắt lại rơi vào chiếc rương bị đá lệch. Vải dầu bọc sổ đã mục một góc, trên gáy quyển ngoài cùng có mấy chữ mờ vì ẩm. Ta đưa tay lau bụi, đầu ngón tay dính một lớp mốc xám.
Bốn chữ hiện ra dưới ánh sáng lờ mờ từ song cửa: Sổ lương Kho Tây. Bên cạnh còn có một dòng nhỏ hơn, bị chuột gặm mất nửa đầu, chỉ sót lại niên hiệu cũ và một vệt mực đỏ nhòe như máu khô. Ta nhìn quyển sổ ấy, bỗng hiểu vì sao từ đường không chỉ dùng để nhốt người sống và thờ người chết. Có những thứ bị giấu ở đây lâu đến mức chính người giấu cũng tưởng chúng đã mục nát. Nhưng sổ sách khác với lời đồn. Lời đồn biết chọn người yếu để cắn. Sổ sách thì không. Nó chỉ nằm đó, chờ có người đủ rảnh, đủ đói, đủ đau để mở ra.
