Chương 44: Trận Tuyết Biên Bắc
Ủng hộ Lăng Kính Truyện
Mở ưu đãi một lần để tiếp tục đọc. Thông báo này chỉ hiện lại sau 4 giờ.
Mở ưu đãi và tiếp tục đọcChương 44: Trận Tuyết Biên Bắc
Thanh Diên nói xong câu ấy thì lại ngất đi. Trong khoảnh khắc rèm xe bị gió mưa hất lên, tôi nhìn thấy bóng Hoài Trầm cưỡi ngựa đi sát bên ngoài, vai áo đen ướt sẫm, tay vẫn đặt trên chuôi kiếm nhưng chưa từng rút ra. Vì hắn yêu cô. Câu nói ấy không giống một lời châm chọc, cũng không giống một lời cảm kích muộn màng. Nó giống một mảnh giấy mỏng rơi vào lòng bàn tay đang cháy, nhẹ đến mức không kịp đau, nhưng để lại vết bỏng không cách nào giấu.
Chúng tôi đưa Thanh Diên đến viện thuốc của Thẩm Như Sơ trước khi trời sáng hẳn. Như Sơ dùng châm bạc dẫn thuốc mê ra, lại ép nàng nuốt nửa bát canh giải độc đắng đến mức người đang mê cũng khẽ nhíu mày. Hoài Trầm đứng ngoài bình phong, không bước vào, không hỏi những chuyện dư thừa. Chỉ khi Thanh Diên tỉnh lại lần thứ hai, hắn mới nói: “Nói được bao nhiêu thì nói bấy nhiêu. Không ai ép cô.”
Thanh Diên mở mắt, nhìn hắn rất lâu. Ánh mắt nàng vẫn đẹp, nhưng vẻ kiêu ngạo từng chống đỡ cả thân phận quận chúa đã vỡ thành một thứ mệt mỏi rất người. Nàng không hỏi hắn có từng hối hận vì hủy hôn hay không, cũng không hỏi tôi vì sao còn ngồi bên giường. Nàng chỉ dùng giọng khàn đặc nói: “Kho Nam Môn không giữ lương cứu viện. Nó giữ sổ và chìa khóa. Lương thật đã bị đổi đường từ ba ngày trước, đẩy lên tuyến cũ để làm mồi. Người họ Lâm giữ chìa khóa là Lâm Tự Đức, quản kho cũ của bộ Hộ. Phụ thân ta dùng cả nhà hắn để buộc hắn mở kho phụ.”
Tôi cúi xuống, trải mảnh giấy cháy Thanh Diên đưa tối qua bên cạnh sổ ghi mạch. Mép giấy chỉ còn vài chữ rời, nhưng mùi mực dầu và lớp tro ở góc dưới khiến tôi nhận ra ngay. “Không phải công văn quân lương bình thường,” tôi nói, “giấy này từng được phết dầu chống ẩm. Chỉ lệnh đi biên Bắc nếu cần chống ẩm đến mức này, nghĩa là đường vận chuyển phải qua tuyết hoặc vùng đóng băng.”
Hoài Trầm nhìn tôi. Một nhịp im lặng rất ngắn trôi qua, đủ để tôi hiểu hắn đã quyết định. Biên Bắc không thể chờ triều đình tranh cãi thêm một ngày nào nữa. Nếu tuyến lương giả bị đẩy ra làm mồi, quân ở đó hoặc sẽ bị bỏ đói, hoặc sẽ đuổi theo đoàn lương rỗng rồi lọt vào bẫy. Cả hai cách đều đủ giết người, và đều đủ viết thêm một dòng oan khuất lên tên Lục gia.
“Ta đến Nam Môn.” Hắn nói.
“Chàng không thể tự đi.” Tôi đứng dậy quá nhanh, trước mắt tối sầm một thoáng. Vết mực trên cổ tay nóng ran, như có ai dùng đầu bút nung đỏ viết tiếp vào da. Tôi vịn mép bàn, cố không để giọng mình run. “Hứa gia đang chờ chàng rời phủ tướng quân để buộc tội tự điều binh. Chúng ta phải để Cố Tử Khiêm và Tiêu Trọng cùng nhìn thấy kho, phải có ấn tuần thành, phải có người của bộ Hộ ký nhận. Chàng ra biên Bắc, nhưng chứng cứ ở kinh thành phải tự đứng được.”
Hoài Trầm không phản bác. Hắn chỉ nhìn tay tôi. Tôi đã giấu cổ tay vào tay áo, nhưng giữa chúng tôi có quá nhiều lần mực nóng lên trong im lặng, giấu cũng giống như lấy khăn phủ lên đèn đang cháy. Hắn bước đến, dừng trước bình phong, giọng thấp xuống: “Nàng ở lại kinh thành.”
Tôi ngẩng đầu. “Không.”
“Biên Bắc không phải Tàng Thư Các.”
“Cho nên càng cần người đọc được sổ giả.” Tôi nhìn thẳng vào hắn, dùng tất cả bình tĩnh còn sót lại để không nói ra câu thật nhất: nếu tôi ở lại, có thể sẽ an toàn hơn; nhưng nếu tôi không đi, tôi sẽ không kịp hoàn chỉnh phần sử cuối cùng để cứu hắn. “Tuyến lương thật giả lẫn nhau bằng giấy, mực, dấu niêm và số xe. Chàng đánh trận, tôi xem dấu. Chúng ta mỗi người làm việc mình giỏi.”
Thanh Diên nằm trên giường khẽ cười, tiếng cười rất nhẹ, nhưng kéo căng không khí như dây cung. “Tướng quân, để nàng đi đi. Người nhà họ Hứa rất hiểu một việc: người giữ được mạng chưa chắc giữ được chứng cứ. Nhưng Tô Vãn Ninh có thể khiến giấy cháy cũng phải nói thật.”
Đến cuối giờ Mão, kho Nam Môn bị mở trước mặt ba bên. Lâm Tự Đức quỳ bên cửa kho, mặt xám như tro tàn, sau lưng là vợ con bị Cố Tử Khiêm phái người âm thầm đưa về từ một ngõ nhỏ phía nam. Khi thấy con trai còn sống, ông ta không chống nữa. Kho chính trống hơn sổ ghi; kho phụ lại giấu những bao lương đóng dấu cũ của Lục gia, cố tình đặt ở nơi dễ bị phát hiện nhất. Tôi cắt một góc bao, xoa lớp mực trên dấu niêm. Mực mới phủ lên dấu cũ, bên dưới còn vệt đỏ nâu đã ngả màu qua nhiều năm. Hứa gia không chỉ muốn phá tuyến lương lần này. Họ muốn dùng chính dấu cũ để lôi án Lục gia sống dậy, bắt người đời tin rằng cha Hoài Trầm từng phản quốc, hôm nay con trai cũng đi lại con đường ấy.
Tiêu Trọng đến muộn hơn mọi người một bước. Ông đứng dưới mái kho, nhìn tuyết đầu mùa bắt đầu rơi lẫn trong mưa, ánh mắt sâu đến mức tôi không muốn đoán trong đó có bao nhiêu phần áy náy. Ông nói: “Gửi bản sao sổ về sử đài. Bản chính đi theo tướng quân. Lịch sử cần chứng cứ, chiến trường cần lương thật.”
Tôi nghe hai chữ lịch sử, ngực trái lại đau âm ỉ. Trước đây tôi từng nghĩ hoàn chỉnh lịch sử là cứu người chết oan, là trả lại tên cho những người bị xóa khỏi sách. Bây giờ tôi mới hiểu, mỗi nét mực được đặt đúng chỗ cũng là một sợi chỉ kéo tôi ra khỏi tay Hoài Trầm. Tôi không thuộc về nơi này. Câu ấy từng là lời cảnh báo, rồi thành vết thương, bây giờ gần như biến thành nhịp tim thứ hai.
Chúng tôi rời kinh trong tuyết mỏng. Hoài Trầm chỉ mang theo một đội kỵ binh nhẹ, bản sổ niêm kín, lệnh điều quân có đủ ấn của tuần thành và bộ Hộ, cùng một đoàn xe đổi tuyến theo lời khai của Lâm Tự Đức. Hắn không để tôi ngồi xe sau cùng. Hắn đặt tôi ở giữa đội hình, nơi gió ít nhất nhưng cũng là nơi tôi nhìn rõ lưng hắn nhất. Suốt chặng đường, hắn không hỏi lại vì sao tôi nhất quyết đi theo. Có lẽ hắn sợ câu trả lời. Có lẽ tôi cũng vậy.
Qua trạm dịch thứ ba, mưa biến hẳn thành tuyết. Tuyết Biên Bắc không mềm như trong thơ. Nó sắc, khô, quất vào mặt đau như tro giấy vừa tắt lửa. Mỗi khi đoàn ngựa đi qua một triền dốc trắng xóa, tôi lại nghĩ đến những trang Vô Quy Ký từng cháy trước mắt mình, tro bay lên rồi tan mất, không để ai nhặt lại. Hoài Trầm cưỡi ngựa chậm xuống, đưa áo choàng của hắn sang cho tôi. Tôi định từ chối, nhưng hắn chỉ nói: “Đừng để tay cứng. Nàng còn phải đọc sổ.”
Tôi kéo áo choàng quanh vai, mùi tuyết lạnh lẫn mùi gỗ trầm quen thuộc khiến cổ họng nghẹn lại. “Hoài Trầm.”
Hắn quay đầu.
Tôi có rất nhiều điều muốn nói. Muốn nói rằng Thanh Diên không sai khi nhìn ra tình yêu của hắn. Muốn nói rằng tôi cũng yêu hắn, yêu đến mức mỗi lần nghĩ đến ngày phải rời đi đều như nuốt một ngụm tuyết lẫn máu. Muốn nói rằng nếu có một con đường không cần ai chết thay, tôi nhất định sẽ đi đến cùng. Nhưng cuối cùng tôi chỉ hỏi: “Nếu lần này thắng, chàng muốn làm gì đầu tiên?”
Hắn nhìn con đường trắng trước mặt, môi mím lại rất khẽ. “Đưa nàng về phủ tướng quân ăn một bữa cơm nóng.”
Một câu rất bình thường. Bình thường đến mức tôi gần như không chịu nổi. Tôi cúi đầu, giả vờ xem lại dây buộc trên túi sổ, để hắn không nhìn thấy mắt mình đỏ lên. Người trong sử có thể mong đại thắng, phong hầu, rửa oan, lưu danh. Còn người yêu một người không thuộc về nơi này chỉ mong sau trận tuyết có một bữa cơm nóng.
Khi chúng tôi đến tiền trạm Biên Bắc, trời đã tối sầm. Tường gỗ của doanh trại phủ một lớp băng, lính giữ cổng môi nứt toác, nhìn thấy Hoài Trầm thì mắt sáng lên như gặp lửa. Tin quân lương bị đổi tuyến đã truyền đến trước chúng tôi nửa canh giờ; đoàn lương giả đi theo đường cũ quả nhiên mất liên lạc, còn tuyến lương thật bị ép dừng ở khe Bạch Thạch vì tuyết lở chặn đường. Hoài Trầm trải bản đồ lên bàn, đầu ngón tay lướt qua những đường mực bị ẩm nhòe. “Địch không đánh doanh chính,” hắn nói. “Chúng sẽ đánh nơi quân ta đói nhất.”
Tôi nhìn vệt mực trên bản đồ. Một nét đánh dấu khe Bạch Thạch đậm hơn các nét khác, nhưng không phải do tay người vẽ mạnh. Đó là mực thấm ngược từ mặt sau, dấu hiệu của bản đồ từng bị đặt lên một tờ lệnh khác khi chưa khô. Tôi lật bản đồ dưới ánh đèn, tim đập mạnh. Mặt sau hiện lên một vệt chữ rất mờ: giờ Tý, gió bắc, đốt xe thứ ba.
“Không phải tuyết lở tự nhiên.” Tôi nói. “Có người trong đoàn lương.”
Hoài Trầm lập tức ngẩng đầu. Ngoài doanh, tiếng tù và bỗng xé ngang màn tuyết. Một binh sĩ lao vào, quỳ sụp xuống nền, vai áo phủ trắng, giọng khàn vì lạnh và sợ: “Tướng quân! Khe Bạch Thạch có lửa! Quân địch đánh vào tuyến lương!”
