Chương 62 - Chương 62: Điểm Giam Cũ
Chương 62: Điểm Giam Cũ
Sợi xích ở cổng phụ KĐ-4 được tháo lúc bảy giờ mười tám phút, nhưng Quân không cho xe đi vào ngay. Anh đứng dưới mái hiên thấp, nhìn nhân viên kỹ thuật quay một vòng toàn cảnh từ ổ khóa, mặt đường ướt đến hai bánh xe tải bỏ không bên bức tường phía đông. Mưa đã nhẹ, chỉ còn những hạt nhỏ bám trên cổ áo. Phía sau trạm Kho Đông cũ, khu đất kéo dài thành một dãy kho thấp, mái tôn xỉn màu, tách khỏi bãi khử khuẩn bằng hàng rào lưới và một lối xe đủ rộng cho xe trung chuyển.
Đại diện pháp chế đọc lại phạm vi trước máy ghi hình. Đội được bảo toàn hiện trạng, sao lưu sổ ra vào, kiểm tra khu vực chung và tiếp cận KĐ-4 với sự đồng ý bằng văn bản của đơn vị đang quản lý tài sản. Không được phá khóa, tháo kết cấu hay thu giữ ngoài danh mục nếu chưa lập căn cứ bổ sung. Người quản lý kho ký từng trang, đặt chùm chìa khóa lên một túi niêm tạm rồi tự tay lấy đúng chiếc có nhãn KĐ-4.
“Phòng này bỏ không gần một năm,” ông ta nói. “Hợp đồng phụ đã trả lại. Chìa khóa do chúng tôi giữ.”
“Ai vào sau khi trả?” Quân hỏi.
Người quản lý đưa sổ giấy và bản xuất dữ liệu thẻ. Hai lượt vào được ghi trong tám tháng: một lần kiểm tra chống dột, một lần kiểm kê phòng cháy. Quân không hỏi ông ta có tin các dòng đó hay không. Anh yêu cầu giữ bản gốc, xuất nhật ký hệ thống kèm hàm kiểm tra và lấy danh sách người có quyền sửa dữ liệu. Tống Nghi ghi tên từng người, không dùng từ điểm giam trong biên bản mở đầu.
Lối vào riêng dẫn tới một hành lang kỹ thuật hẹp. Tường đã sơn xám, nhưng ở mép bậc thang đầu tiên, lớp sơn mới bong khỏi một mảng bằng đồng xu, để lộ màu xanh đậm bên dưới. Tống Nghi dừng lại nửa nhịp. Quân giơ tay trước khi cô nói.
“Chụp toàn cảnh, trung cảnh, cận cảnh. Lấy mẫu theo lớp nếu chủ tài sản đồng ý. Chưa đối chiếu với lời nhớ.”
Kỹ thuật viên đặt thước tỷ lệ cạnh mảng sơn, ghi vị trí và độ cao. Những bậc phía dưới cũng có màu xanh ở các vết sứt, nhưng chưa ai biết lớp đó được sơn vào năm nào. Quân để một dòng riêng trong phiếu: màu sơn cũ tồn tại dưới lớp phủ hiện tại; niên đại chưa xác định.
Vòng tròn đỏ trên sơ đồ không nằm ở cửa như Tống Nghi đã tưởng. Nó nằm cao hơn đầu người, đúng vị trí một đèn báo nhỏ đã bị phủ bụi. Chuyên viên điện của kho cắt nguồn nhánh sau khi ghi chỉ số, mở nắp hộp trước máy quay. Bên trong không phải mạch báo cháy. Hai dây dẫn chạy về công tắc từ trên cửa kéo và một dây khác đi qua trần, hướng về căn phòng từng là bàn điều phối.
“Đèn trạng thái cửa,” chuyên viên nói. “Khi cửa đóng, đèn sáng ở phòng bên kia.”
“Có báo động khi mở từ trong không?” Tống Nghi hỏi.
Người đàn ông lần theo sơ đồ dây cũ rồi lắc đầu. “Không có mạch mở từ trong. Chỉ báo đóng hoặc mở.”
Quân yêu cầu ông ta dừng ở đó. Kết luận chức năng phải do đơn vị giám định thiết bị lập, không phải lời nói tại chỗ. Nhưng trước mắt, hệ thống này không phục vụ chữa cháy như lớp chú giải trên bản vẽ. Pháp chế bổ sung căn cứ kiểm tra phần cửa và cơ cấu khóa vì chúng thuộc hạng mục đã được chủ tài sản đồng ý cho tiếp cận.
Chìa khóa xoay được ngay lần đầu. Cửa kéo kim loại nâng lên từng đoạn ngắn, phát tiếng rung khô trong ray. Quân đứng ngoài ngưỡng cho đến khi kỹ thuật viên chụp đủ phần nền, bụi và vị trí các vật còn lại. Không có giường, dây trói hay vật chứng nào nằm chờ để xác nhận điều họ nghĩ. Trong phòng chỉ có ba tấm pallet mục, một cuộn ống thông gió cũ và hai kệ thép đã tháo một nửa.
Không khí nặng mùi ẩm. Tống Nghi khẽ nhíu mũi, nhưng Quân bảo lấy mẫu khí và mẫu bụi trước khi ghi nhận bất kỳ mùi đặc trưng nào. Một căn phòng bỏ lâu có thể giữ lại dầu máy, chất tẩy, nấm mốc hoặc mọi thứ người bước vào muốn gọi tên.
Việc kiểm tra được chia theo ô. Bức tường phía bắc là vách hai lớp, giữa có vật liệu tiêu âm đã ngả màu. Không có cửa sổ ngoài. Miệng thông gió đặt sát trần, lưới phía trong được bắt vít từ hành lang kỹ thuật chứ không phải từ trong phòng. Trên nền bê tông có tám lỗ neo tạo thành hai hình chữ nhật song song. Kỹ thuật viên đo khoảng cách, đối chiếu với danh mục kệ cũ và xác nhận kích thước không khớp bất kỳ chân kệ nào còn trong hồ sơ tài sản. Quân chỉ cho ghi rằng mục đích của các lỗ neo chưa xác định.
Điểm khiến căn phòng đổi nghĩa nằm ở cửa.
Mặt trong từng có tay kéo. Bốn lỗ vít đã được trám, nhưng quầng kim loại còn in dưới lớp sơn. Cơ cấu nhả khẩn cấp cũng bị tháo, để lại một rãnh cắt vuông trên thanh khóa. Khi cửa hạ xuống, người ở trong không thể với tới ổ khóa ngoài, cũng không có bộ phận cơ khí nào để nâng cửa khỏi ray. Khe dưới chân cửa hiện bị bịt bằng một thanh cao su mới hơn. Sau khi tháo thanh bằng thao tác bảo trì do chính quản lý kho thực hiện, khoảng trống cũ lộ ra, cao gần chín centimet.
Tống Nghi nhìn qua khe tối đó. “Đủ để đẩy một tờ giấy.”
“Đủ để đẩy nhiều thứ,” Quân nói. “Đo và ghi. Không gắn với vật Hạ Uyên nhớ.”
Ở phòng điều phối cũ, đội tìm thấy một bảng điện đã bị tháo thiết bị. Trên tấm lưng kim loại còn đường viền bụi hình chữ nhật và bốn chân đỡ phù hợp với ảnh chiếc hộp nhựa xám ở KĐ-4. Đầu nối sáu chấu vẫn nằm trong máng dây. Mã của bộ đầu nối trùng với phụ kiện được liệt kê trong hồ sơ kỹ thuật của chiếc hộp, nhưng số sê-ri thiết bị không còn ở hiện trường. Quân cho niêm phong đầu nối và tấm gá riêng, ghi rõ chúng chỉ chứng minh một thiết bị cùng chuẩn từng được lắp tại đây, chưa chứng minh đó là chiếc hộp trong ảnh.
Bản sao hồ sơ cải tạo được người quản lý mang tới sau hơn một giờ. Tờ đề nghị cũ gọi KĐ-4 là “phòng cách ly hàng lỗi”, nhưng phần yêu cầu kỹ thuật không giống một kho chứa thông thường: bổ sung vật liệu tiêu âm, chuyển chốt cửa ra ngoài, tháo tay mở phía trong, lắp đèn báo trạng thái ở bàn điều phối và giữ khe giao nhận dưới cửa. Đơn vị đề nghị là nhà thầu từng quản lý chiếc hộp. Người phê duyệt chỉ ký tắt bằng hai chữ cái, không có họ tên đầy đủ.
Tống Nghi đọc lại danh mục rồi đặt tờ giấy xuống. “Một phòng cách ly hàng lỗi không cần ngăn người bên trong tự mở.”
Quân nhìn căn phòng qua cửa kéo đang được cố định ở vị trí mở. Sự im lặng ở đó không giống bằng chứng; nó giống một khoảng trống buộc người ta tự lấp bằng điều mình sợ. Anh đã làm việc đó quá nhiều lần trong hồ sơ cũ.
“Ghi rằng cấu tạo hạn chế khả năng tự thoát từ bên trong,” anh nói. “Gửi giám định cơ cấu cửa. Lấy hồ sơ cải tạo gốc, người lập yêu cầu, người ký tắt và nhật ký sử dụng phòng. Chưa gọi mục đích của nó.”
Điện thoại của Quân rung khi Tống Nghi vừa chuyển yêu cầu đầu tiên. Tên An Nhiên hiện trên màn hình. Anh bước ra hành lang, tránh để hình ảnh KĐ-4 lọt vào khung cuộc gọi.
“Tôi nghe.”
“Có người gọi tới điểm dự phòng,” An Nhiên nói. Giọng cô thấp và đều, nhưng phía sau có tiếng khóa cửa trượt vào chốt. “Họ tự xưng đội bảo trì hệ thống báo cháy. Đọc đúng mã dịch vụ số mười hai và yêu cầu vào kiểm tra đèn báo tầng.”
Quân nhìn hộp đèn đỏ phủ bụi trên tường KĐ-4. “Có lịch không?”
“Không. Tôi đã xác minh với đầu mối quản lý. Không có lệnh bảo trì.”
“Hạ Uyên?”
“Đang ở phòng trong. Cô ấy chưa được nghe nội dung cuộc gọi. Bảo vệ đã khóa hai lớp và chuyển sang quy trình rời điểm.”
Quân ra hiệu cho Tống Nghi mở kênh điều phối kín. Anh không hỏi người gọi biết địa chỉ bằng cách nào trước khi biết họ đang ở đâu. “Không dùng thang máy. Giữ Hạ Uyên khỏi cửa sổ. Đội gần nhất còn bao lâu?”
An Nhiên chưa kịp trả lời. Một tiếng kim loại va mạnh vang lên từ đầu dây, sau đó là âm thanh bánh xe lăn nhanh trên nền cứng. Không phải ở trong phòng cô; nó vọng từ hành lang ngoài.
“Xe đồ vải,” An Nhiên nói.
Quân đã quay người về phía cửa ra. “Rời phòng ngay.”
Trên máy tính bảng của Tống Nghi, đường truyền camera điểm dự phòng vừa được mở. Hình ảnh hiện lên trong chưa đầy một giây: hành lang trắng, cửa chống cháy đang khép, một người mặc áo bảo trì cúi sau chiếc xe đẩy phủ vải xám. Bàn tay đeo găng của người đó chạm vào hộp điều khiển cạnh cửa.
Màn hình tắt đen.
