Chương 61 - Chương 61: Đừng Ký
Chương 61: Đừng Ký
“Đừng ký.”
An Nhiên không hỏi ai đã nói câu đó. Cô chỉ giữ nguyên tư thế trên ghế, hai bàn chân chạm sàn, hai tay đặt hờ trên đầu gối để Hạ Uyên nhìn thấy. Ngoài mái che, mưa vẫn gõ đều. Chiếc xe đẩy đồ vải đã được đưa đi, nhưng vệt bánh cao su còn in một đường sẫm dưới khe cửa.
“Cô muốn tôi ghi đúng hai tiếng ấy không?” An Nhiên hỏi.
Hạ Uyên nhìn phần cuối trang sổ đang để trống. Bàn tay cô nắm lại trên mép chăn, rồi mở ra. “Ghi. Nhưng đừng hỏi người đó là ai. Tôi không biết.”
An Nhiên viết đúng câu, đặt trong ngoặc kép, thêm giờ và ghi rõ đây là lời nhớ tự phát. Cô không thêm giới tính, vị trí hay ý định của người nói. Khi đầu bút vừa rời giấy, Hạ Uyên quay mặt về phía cửa kính mờ.
“Sau đó có thứ gì trượt vào.”
An Nhiên đợi.
“Không phải tờ giấy họ bắt tôi nhìn.” Hạ Uyên nhắm mắt. “Nhỏ hơn. Cứng. Có hai lỗ tròn. Mực tím ở một mép.”
“Cô muốn dừng không?”
Hạ Uyên lắc đầu. Hơi thở cô ngắn đi, nhưng vẫn đều. “Tôi nghĩ là vé xe. Tôi không chắc. Tôi chỉ nhớ mình giấu nó trong tay áo. Khi tỉnh lại lần sau thì không còn.”
An Nhiên đọc lại từng câu, không thay chữ “nghĩ” bằng “là”, cũng không đổi “hai lỗ tròn” thành lỗ bấm. Hạ Uyên sửa “mực tím” thành “một vệt tím”, rồi đồng ý chuyển phần về vật nhỏ cho đội điều tra. Câu về hai chữ ký vẫn được giữ lại. Cô cũng không đồng ý nghe lại bất kỳ mô tả nào về vật chứng cũ.
“Tôi không muốn biết họ đã tìm thấy gì trước khi tôi nhớ,” Hạ Uyên nói.
“Được.”
An Nhiên khóa bản ghi mới thành một phụ lục riêng. Trước khi rời ghế, cô đặt một cốc nước ấm trong tầm tay Hạ Uyên, nhưng không đặt bút, sổ hay bất kỳ tờ giấy nào cạnh đó.
Tại trụ sở, ảnh kiểm kê trước và sau ngày bàn giao đã về đủ.
Tống Nghi xếp chúng theo thời gian, không theo tên tệp. Bức đầu chụp chiếc hộp nhựa xám trên giá C-12 của kho nhà thầu, ba tuần trước ngày ghi trên biên bản. Bức thứ hai được lập chín mươi ba ngày sau ngày bàn giao, trong một đợt kiểm kê quý. Chiếc hộp vẫn ở giá C-12. Vệt rách hình móc câu trên nhãn nằm đúng vị trí cũ, một vết xước trắng cắt qua góc nắp cũng không thay đổi. Số sê-ri trên ảnh sau bị che một phần bởi dây niêm, nhưng sáu ký tự đầu trùng với ảnh gốc.
“Có thể họ chụp lại ảnh cũ,” Tống Nghi nói.
“Kiểm tra ảnh, đừng kiểm tra giả thuyết.” Quân đẩy cốc cà phê nguội sang bên.
Dữ liệu gốc cho thấy hai ảnh được chụp bằng hai máy khác nhau, cách nhau hơn ba tháng. Ảnh sau có dấu kiểm kê tự động, vị trí tiêu cự và nhiễu cảm biến phù hợp với máy dùng trong đợt quý đó. Trong nền ảnh còn có bảng nhiệt độ kho hiển thị ngày. Đội kỹ thuật xác nhận không có dấu hiệu ảnh cũ được chèn vào khung mới, nhưng Quân vẫn yêu cầu ghi giới hạn: ảnh chứng minh chiếc hộp có đặc điểm nhận dạng tương ứng vẫn xuất hiện trong kho nhà thầu sau ngày bàn giao; chưa chứng minh nó chưa từng rời kho trong khoảng giữa.
Tống Nghi sửa câu kết luận lần thứ hai. “Vậy biên bản không phản ánh chuỗi quản lý liên tục.”
“Ghi là chuỗi quản lý trên biên bản mâu thuẫn với ảnh kiểm kê. Phần liên tục để sau khi lấy sổ xuất nhập.”
Điện thoại nội bộ lại rung. Lần này không phải cuộc gọi nhắc phạm vi. Bộ phận pháp chế chuyển đến phản hồi của người từng được ghi là trưởng ca kỹ thuật. Ông ta đồng ý xác minh qua buổi làm việc có ghi âm, nhưng yêu cầu được xem chính tài liệu mang tên mình. Quân cho phép hiển thị phần họ tên, chức danh và hình chữ ký, che toàn bộ dữ liệu điều tra khác.
Người đàn ông nhìn màn hình chưa đầy mười giây.
“Chữ ký này là của tôi,” ông nói. “Nhưng tôi không ký tờ này.”
Tống Nghi ngẩng lên. Quân không phản ứng.
“Ông nhận ra chữ ký từ đâu?”
“Mẫu tôi ký trên phiếu bảo trì. Bên nhà thầu từng xin bản quét để làm hồ sơ điện tử.” Ông dừng lại, nhíu mắt trước ngày bàn giao. “Hôm đó bãi đã giảm ca. Tôi không nhận thiết bị nào.”
“Ông có căn cứ nào ngoài trí nhớ?”
Người đàn ông mở lịch làm việc cá nhân đã lưu từ năm đó. Quân không nhận ngay. Anh yêu cầu pháp chế thu thập bản gốc từ hệ thống chấm công của đơn vị cũ, kèm lịch sử lưu trữ và xác nhận người quản lý dữ liệu. Lời phủ nhận được ghi ở nhánh nhân chứng tài liệu, chưa dùng để kết luận giả mạo.
Khi buổi xác minh kết thúc, Tống Nghi nói nhỏ: “Ít nhất chúng ta đã có người nói thẳng.”
“Chúng ta có một lời phủ nhận cần kiểm tra.” Quân nhìn đồng hồ. “Và một chữ ký ông ấy thừa nhận từng cho phép số hóa. Hai việc đó không giống nhau.”
Bản phụ lục của An Nhiên đến sau đó mười một phút. Quân kiểm tra dấu đồng ý trước, rồi đọc phần được chuyển: một vật nhỏ, cứng, có hai lỗ tròn, một vệt tím; Hạ Uyên nghĩ là vé xe; vật được đẩy qua khe cửa sau câu “Đừng ký”; cô từng giấu trong tay áo nhưng sau đó không còn.
Tống Nghi nhìn sang tủ vật chứng. “Vé cũ của nạn nhân đầu tiên.”
“Không đặt cạnh nhau trên bảng.”
“Nhưng mô tả—”
“Là mô tả phổ biến của nhiều loại vé.” Quân mở danh mục vật chứng đã niêm. “Ta truy nguồn từng nhánh. Không dùng ký ức của Hạ Uyên để làm chiếc vé cũ trở nên đặc biệt hơn mức nó vốn có.”
Chiếc vé được lấy ra bằng quy trình kiểm tra lại niêm phong. Nó đã xuất hiện từ đầu vụ án, nằm trong túi áo của nạn nhân mất tích đầu tiên: giấy bìa mỏng đã ngả vàng, hai lỗ bấm gần cạnh phải, một dải mực tím nhòe qua phần tên tuyến bị rách. Mười năm trước, loại vé giấy này vẫn được dùng trên một số tuyến xe công nhân và xe trung chuyển thuê ngoài. Khi ấy đội chỉ xác định nó không thuộc hệ thống xe buýt công cộng hiện tại.
Tống Nghi quay lại từ đầu. Cô yêu cầu kho lưu trữ của ba đơn vị vận tải cũ cung cấp bảng mẫu vé, sơ đồ bấm lỗ và dải số phát hành trong năm liên quan. Hai đơn vị loại được ngay vì dùng lỗ vuông hoặc mực đỏ. Đơn vị còn lại từng vận hành tuyến trung chuyển số 24, dùng kìm bấm hai lỗ tròn để mã hóa điểm lên và điểm xuống, còn mực tím là dấu kiểm soát của bến cuối.
Bảng mã không được tải từ một bản chụp trên mạng. Nó đến từ sổ hướng dẫn nghiệp vụ giấy, có số lưu trữ và chữ ký bàn giao. Tống Nghi đặt bản sao đọc-only cạnh ảnh chiếc vé, rồi để kỹ thuật đo vị trí tâm hai lỗ. Kết quả không cho ra một điểm duy nhất. Mép vé bị rách làm mất cột tuyến, còn hai lỗ chỉ thu hẹp được xuống hai hành trình có cùng mức cước.
Một hành trình kết thúc ở khu cảng cũ. Hành trình còn lại dừng tại trạm Kho Đông, cách bãi khử khuẩn chưa đầy tám trăm mét theo bản đồ đường bộ mười năm trước.
Căn phòng im đi, nhưng Quân không cho phép Tống Nghi nối đường.
“Vé của nạn nhân đầu tiên chỉ cho thấy người giữ vé có thể đã đi một trong hai hành trình,” anh nói. “Mảnh nhớ của Hạ Uyên chưa có số tuyến, chưa có kích thước và vật đó cũng không còn. Hai nhánh vẫn tách.”
“Còn chiếc hộp ở kho nhà thầu?”
“Cũng tách. Tìm sổ xuất nhập giá C-12 và địa chỉ kho thực tế trong đợt kiểm kê.”
Sổ xuất nhập đến gần sáng. Không có dòng đưa chiếc hộp ra khỏi kho vào ngày ghi trên biên bản bàn giao. Ba tháng sau, nó được chuyển nội bộ từ giá C-12 sang một cơ sở phụ với mã địa điểm KĐ-4. Người lập phiếu chỉ ghi “thiết bị điều khiển cũ”, không ghi số sê-ri đầy đủ. Đội kỹ thuật đối chiếu vệt rách trên nhãn với ảnh nhận kho tại cơ sở phụ và xác nhận đó vẫn là chiếc hộp có cùng đặc điểm nhận dạng.
Tống Nghi tra mã địa điểm trong hồ sơ đăng ký tài sản của nhà thầu. Địa chỉ hiện ra không phải trụ sở công ty. Đó là một phần kho thuê nằm sau trạm Kho Đông cũ, cùng khu đất với bãi khử khuẩn nhưng dùng lối vào riêng.
Quân đứng dậy. Cơn mỏi sau một đêm kéo dài khiến đầu gối anh khựng lại nửa nhịp. Anh đợi cảm giác đó qua đi rồi mới bước tới màn hình.
“Chuẩn bị yêu cầu bảo toàn hiện trạng và hồ sơ thuê,” anh nói. “Chưa khám xét. Chưa gọi đây là điểm giam.”
Tống Nghi mở tệp sơ đồ phòng cháy cũ đính kèm hồ sơ thuê. Phần lớn các phòng được đánh số theo dãy kho. Chỉ có một ô nằm sâu trong hành lang kỹ thuật, không có cửa sổ ngoài, được ngăn bằng cửa kéo kim loại. Trên bản vẽ, ô đó mang đúng mã KĐ-4.
Bên cạnh ký hiệu cửa có một vòng tròn nhỏ được tô đỏ.
Quân nhìn nó vài giây, rồi tắt lớp chú giải trước khi bất kỳ ai kịp gọi tên thứ họ đang nghĩ.
“Khóa bản vẽ,” anh nói. “Sáng nay chúng ta đến Kho Đông.”
