Bỏ qua nội dung

Chieu Hoa Than

Chương 68 - Chương 68: Quốc Thư Thật

Mực trên biên bản mười mũi chỉ còn chưa khô khi Tạ Uyển bước ra khỏi cung Vĩnh Ninh. Nàng trả thẻ ngà “phụ đối” lên án kiểm danh, nghe nữ sử đọc lại giờ ra rèm rồi đóng dấu bên cạnh tên mình. Sau lưng, chuỗi ngọc trên áo đại hôn chỉ vang một lần rất khẽ. Tạ Uyển không quay đầu. Đầu ngón tay bị kim châm vẫn rát trong tay áo, như giữ lại câu Chiêu Nghi vừa nói: đến chỗ chưa được xác nhận, bản cung sẽ không bước.

Mạnh cô cô đợi dưới hành lang, chỉ hỏi: “Đường lược đã nhập sổ?” Tạ Uyển đáp: “Có hai nữ sử làm chứng. Muốn tháo phải lập biên bản.” Bà khẽ gật, không hỏi hai người đã nói gì dưới lớp áo đỏ. Ngoài rèm, tiếng Đỗ Nghiêm giao chìa khóa hòm phục sức lạnh như giục giờ. Trước khi tách đường, bà nói: “Hắn đã điều ngươi sang phòng sao mục. Ba ty vừa gửi hồi đáp khảo dị, thiếu người chép sạch.”

Đỗ Nghiêm quả thật giữ đúng lời chế nhạo hôm trước: người sao mục chỉ cần thấy chữ. Tạ Uyển không được chạm điện tế tiễn, không được hỏi quốc thư, càng không được đến gần Tây khố nơi Phó Cẩn bị khóa dưới hai lớp dấu. Nàng vào Đông lang Giám lễ viện bằng thẻ sao mục màu đen, ngồi ở chiếc án cuối phòng trước một chồng phiếu của Lễ bộ, Nội Lễ ty và cấm quân. Mỗi tờ phải chép hai bản, đối nét son, ghi giờ nhận—một việc đủ vô hại để không ai cho nàng quyền quyết định một chữ nào.

Đến tờ thứ sáu, nàng thấy biên kê vật tạm lưu của Tây khố, kẹp vào hồ sơ vì có một vật phải trả về phòng sao mục. Tên người bị giữ viết ở cuối bằng nét bút bị ép ngắn: Phó Cẩn. Người bị khóa không được gửi thư, nhưng có quyền bác vật bị ghi sai là tài sản riêng. Phó Cẩn đã dùng quyền nhỏ ấy. Trong năm món kê, bốn món là đai, lệnh bài, vỏ kiếm và túi thuốc. Món cuối bị gạch rồi sửa: “Một bản kê ấn bằng gỗ du, số bảy, mặt hạc quay vào, góc đông nam khuyết; vật công, không thuộc người. Xin hoàn giá cũ.”

Tạ Uyển đọc câu ấy ba lần. Trong lời chứng trước khi bị khóa, Phó Cẩn từng nói quốc thư thật không đi theo hòm quốc thư, mà nằm “dưới bóng của ấn”; hắn chưa kịp giải thích thêm thì người của Tưởng đã đến. Bản kê ấn là tấm gỗ lót dưới công văn lúc đóng quốc tín, mặt trên chịu lực, mặt dưới giữ vết hằn. “Mặt hạc quay vào” không phải cách ghi thông thường của kho, còn góc đông nam khuyết chính là dấu nhận vật duy nhất không thể đổi bằng một tấm mới. Phó Cẩn không thể dẫn nàng ra khỏi Tây khố. Hắn chỉ khiến con đường của một vật công bắt buộc phải đi qua nơi nàng đang bị đẩy tới.

Phiếu này cũng đi qua tay Đỗ Nghiêm. Nếu nàng thấy, hắn tất nhiên biết nàng có thể thấy. Tạ Uyển đặt biên kê về đúng mép giấy, chép đủ năm món rồi mới xin lục sự cho đối sổ khí cụ cũ, lấy lý do phải xác nhận số bảy trước khi sao mục. Lục sự đang bận đóng dấu, gọi người giữ kho giấy đưa nàng sang gian tây. Mọi bước đều có tên người, giờ đi và lý do. Nếu là bẫy, nàng sẽ không tự xóa dấu chân để bước vào.

Phòng sao mục cũ có mùi hồ da, giấy ẩm và bụi son. Trên giá thứ bảy, ngay tầm mắt là một ống sơn đỏ có đường niêm nứt sẵn, bên dưới lộ mép giấy vàng. Tạ Uyển không chạm. Bụi quanh ống bị quệt thành vòng mới, còn thẻ đồng phía sau phủ xám liền mạch; vật ấy vừa được đặt vào. Dấu son trên niêm có nét móc bên phải tròn kín, giống bản quốc thư giả nàng từng thấy. Khuôn quốc tín thật sứt một điểm nhỏ ở nét hồi dưới, không thể tròn như vậy.

Người giữ kho giấy đứng ngoài cửa, tay ôm sổ, mắt không rời nàng. Tạ Uyển chỉ vào ống sơn: “Vật này không có trong mục khí cụ số bảy.” Ông ta lật sổ, quả nhiên không thấy, bèn định đưa tay lấy. Nàng ngăn lại. “Vật vô mục phải chờ lục sự và người lập niêm cùng mở. Ta chỉ đối vật có số.” Một câu đúng lệ khiến cả hai đều không phải chạm vào mồi. Người giữ kho nhíu mày, nhưng vẫn ghi thêm một dòng “ống son vô mục, tạm lưu”. Từ khoảnh khắc ấy, bất cứ ai lấy nó đi cũng phải để lại chữ.

Bản kê ấn số bảy không nằm trên giá. Tạ Uyển lần theo cột ghi “vật hỏng chờ tu”, tìm thấy nó trong một giỏ gỗ sát cửa sổ. Tấm gỗ du cũ bằng hai bàn tay, một mặt khắc hạc quay đầu vào trong, góc đông nam mất một miếng bằng móng út. Mặt chính sạch đến bất thường; mặt sau phủ nỉ đen, đường chỉ ở cạnh dưới có một mũi hồi không cùng màu với những mũi còn lại. Phó Cẩn đã không giấu lời nhắn trong chữ. Hắn để lại một cách mở mà người từng dùng chỉ thêu làm mật thư sẽ nhận ra.

Tạ Uyển đặt tấm kê ấn lên án sửa giấy, xin dao ngà để kiểm mép nỉ bong. Đó là thao tác hợp phép với khí cụ bị ghi hỏng, nhưng nàng vẫn nghe rõ tiếng giày ngoài hành lang dừng lại rồi mới đi tiếp. Nàng luồn đầu dao dưới mũi chỉ khác màu, nâng vừa đủ một khoảng bằng ngón tay. Bên dưới lớp nỉ không phải gỗ đặc. Một tờ giấy vàng nhạt được gấp mỏng, ép phẳng trong khoang rỗng, mép giấy còn dính một hạt son đã khô.

Nàng không rút cả tờ ra. Chỉ cần mở một nếp, những dòng đầu đã hiện dưới ánh cửa sổ: quốc thư gửi Bắc Yên, dùng lời hòa hiếu làm mặt ngoài nhưng ở phần phụ khoản ghi rõ việc giao đồ bản ba đồn và tuyến chuyển lương Đông Trấn sau khi đoàn tiễn giá rời kinh. Chiêu Nghi không chỉ là vật bảo chứng cho hòa ước; nàng còn là tấm rèm che một cuộc trao đổi quân cơ. Ở cuối phụ khoản là dấu quốc tín nguyên vẹn. Son thật không đỏ tươi như bản giả, mà sẫm, có những hạt khoáng đen li ti. Nét hồi dưới của khuôn ấn khuyết một điểm, vết sứt ăn vào đúng nửa đầu nét—chi tiết không người khắc giả nào biết nếu chưa từng cầm khuôn thật.

Bên cạnh dấu quốc tín có một hàng chữ nhỏ bằng mực Lễ bộ: “Theo bản nghị tại Đông các, chờ lễ thành thì giao.” Không đề tên Tưởng Thừa Ân, nhưng cách hạ chữ “thành” và dấu phê móc câu trùng với lệnh hắn từng đặt lên hồ sơ Tạ gia. Tạ Uyển thấy lạnh từ cổ tay lên vai. Cha nàng bị giáng chức vì lần theo tuyến chuyển lương này; Chiêu Nghi bị đặt vào áo đại hôn để mang nó ra khỏi cửa thành. Hai việc cách nhau nhiều năm cuối cùng nằm trên cùng một tờ giấy.

Nàng có thể lấy quốc thư. Chỉ cần gấp lại, giấu trong lớp áo và rời Đông lang trước khi đổi ca. Nhưng một nữ quan bị tước quyền mang quốc thư mật trong người sẽ không thành người giữ chứng cứ, chỉ thành kẻ trộm quốc thư. Tưởng không cần chứng minh bản ấy giả; hắn chỉ cần chứng minh nó được tìm thấy trên người nàng. Tạ Uyển ép nếp giấy về đúng vị trí, kéo lớp nỉ xuống và dùng mũi chỉ cũ khóa lại. Nàng không mang theo một chữ nào ngoài những gì đã ghi vào trí nhớ: ba đồn, tuyến Đông Trấn, câu “chờ lễ thành thì giao”, và vết khuyết ở nét hồi dưới của ấn son thật.

Nàng gọi người giữ kho vào, chỉ góc gỗ khuyết và mép nỉ bong. “Vật này thuộc hồ sơ khảo dị quốc tín. Nếu chuyển trước khi đối mẫu, dấu hằn cũ có thể mất.” Ông ta do dự: “Tạ nữ quan không còn chức chủ kiểm.” Nàng đáp: “Ta chỉ ghi tình trạng theo nhiệm vụ sao mục. Người quyết định chuyển phải ký nhận hậu quả.” Tạ Uyển viết vào sổ: bản kê ấn số bảy, góc đông nam khuyết, nỉ lót rời; tạm miễn chuyển, chờ ba ty đối mẫu. Người giữ kho nhìn đường nứt thật rồi ký tên, đóng dấu.

Mực vừa khô, một nội thị của Đỗ Nghiêm đã tới, truyền khẩu lệnh đưa toàn bộ khí cụ giá thứ bảy sang điện tế tiễn trước giờ Ngọ. Người giữ kho đưa sổ ra. Nội thị nhìn dòng “tạm miễn chuyển”, sắc mặt đổi rất nhẹ. “Đỗ đại nhân đang giữ việc kiểm, cần vật thì ai dám giữ?” Tạ Uyển khép nắp nghiên. “Không ai giữ. Chỉ cần đại nhân viết một dòng nhận rằng đã chuyển vật đang chờ ba ty đối mẫu. Sau này dấu hằn không còn, người tra sẽ biết hỏi ai.” Căn phòng im đến mức nghe được hạt bụi rơi trên giấy. Nội thị không ngu đến mức nhận thay một trách nhiệm không biết sâu cạn. Hắn cầm khẩu lệnh trở về xin văn thư chính thức.

Tạ Uyển hiểu mình chỉ mua được một khoảng ngắn. Tưởng đặt ống son làm mồi, lại sai người chuyển giá thứ bảy ngay sau khi nàng tới; hắn biết Phó Cẩn để lại đường dẫn, chỉ chưa biết nàng có tìm đúng mặt dưới hay không. Nhưng quốc thư thật giờ nằm trong một vật có số, có tình trạng hỏng, có tên người giữ kho và dấu “tạm miễn chuyển”. Muốn lấy đi, phe Tưởng phải để lại thêm một lớp giấy. Chính hệ thống họ dựng lên đã bắt đầu buộc tay họ bằng một sợi chỉ mảnh.

Nàng vừa ra khỏi Đông lang thì gặp hai cấm quân đứng chờ dưới bậc đá. Người đi đầu không rút đao, chỉ trao một tờ lệnh đối chứng có ấn Đông ty. Tạ Uyển đọc đến dòng thứ hai, ngón tay bị kim châm bỗng đau trở lại. Tạ Hành đã bị đưa khỏi nơi quản thúc, tạm giữ trước cửa ngục để xét tội cất giấu thư liên quan phòng tuyến. Trong mục vật chứng có ghi một phong thư cũ, dây buộc bạc màu, mặt ngoài là nét chữ của phụ thân nàng.

Cấm quân nói: “Tưởng thượng thư cho phép Tạ nữ quan đến trước giờ Dậu. Quá giờ, Đông ty sẽ mở thư trước mặt quan thẩm.” Hắn dừng một nhịp rồi thêm, như chỉ truyền nguyên lời: “Một phong thư có thể giữ quốc thể. Một phong thư cũng có thể chôn cả một nhà.” Tạ Uyển gấp lệnh đối chứng lại. Sau lưng nàng, quốc thư thật vẫn nằm dưới lớp nỉ cũ ở giá thứ bảy; trước mặt nàng, em trai đã bị đặt bên cửa ngục cùng lá thư cuối của cha. Tưởng chưa biết nàng cầm được chứng cứ hay chưa, nhưng hắn đã biết phải đem ai ra để buộc nàng dừng bước.