Bỏ qua nội dung

Chieu Hoa Than

Chương 69 - Chương 69: Em Trai Trước Cửa Ngục

Vòng sắt trên cửa Đông ty va vào nhau ba tiếng khi Tạ Uyển đưa lệnh đối chứng cho người gác. Trời chưa đến giờ Dậu, nhưng nắng cuối ngày đã bị tường ngục cắt thành một dải mỏng trên nền đá, lạnh đến mức nhìn như ánh của lưỡi dao. Người gác đọc tên nàng, đối dấu rồi mới mở cánh cửa phụ, không cho nàng bước qua ngạch chính. “Người chưa định tội chỉ được gặp ở tiền đình,” hắn nói. “Tạ nữ quan tới đúng giờ.”

Tiền đình đặt ngay trước cửa ngục, một bên là án thẩm thấp, một bên là hàng song sắt chưa khóa. Tạ Hành đứng dưới mái hiên, hai cổ tay buộc bằng dây trắng của Đông ty, không có xiềng. Áo hắn còn là áo vải màu tro lúc bị quản thúc, nhưng vạt dưới dính bùn khô, tóc mai rối vì bị đưa đi vội. Trên chiếc khay sơn đen giữa án có một phong thư cũ, dây buộc đã bạc đến gần như trắng. Dưới dây là hai nút chéo nhỏ—cách buộc phụ thân nàng vẫn dùng để phân biệt thư nhà với công văn.

Tạ Hành nhìn thấy nàng thì môi động trước, nhưng người ngồi sau án đã lên tiếng. Đó là Cao chủ sự của Đông ty, người nổi tiếng chỉ tin những gì có thể đóng dấu. Bên phải ông ta, Đỗ Nghiêm đặt tay lên một tờ giấy đã viết sẵn, nét mặt không lạnh cũng không cười. “Tạ nữ quan đã tới,” hắn nói. “Vậy việc này có thể giải quyết trước khi phải mở thư.”

Tờ giấy được đẩy qua mặt án. Tạ Uyển không chạm ngay. Dòng đầu ghi là bản bổ chính tình trạng khí cụ của phòng sao mục; dòng giữa viết rõ bản kê ấn gỗ du số bảy chỉ là vật hỏng thông thường, không thuộc hồ sơ khảo dị quốc tín, cho phép chuyển sang điện tế tiễn theo khẩu lệnh người chủ kiểm. Phần cuối đã chừa chỗ cho tên nàng và giờ ký. Chỉ cần một nét mực của nàng, dòng “tạm miễn chuyển” trong sổ sẽ bị biến thành sai sót của người sao mục tự ý vượt quyền.

Đỗ Nghiêm nói: “Tạ công tử trẻ tuổi, giữ một phong thư cũ cũng có thể là vì nhớ cha. Nếu người nhà xác nhận đây chỉ là thư gia sự, Đông ty không nhất thiết phải làm lớn. Tạ nữ quan sửa một dòng không thuộc quyền mình, đổi lại em trai trở về nơi quản thúc. Hai việc đều giữ được thể diện.”

Tạ Uyển đọc hết tờ giấy thêm một lần. Tưởng Thừa Ân chưa biết nàng đã nhìn thấy gì dưới lớp nỉ, nhưng hắn biết dòng sổ kia đang cản người của hắn. Hắn không cần nàng giao quốc thư; chỉ cần nàng tự phủ nhận mối liên hệ giữa bản kê ấn và khảo dị quốc tín, mọi văn thư chuyển vật sau đó sẽ trở nên sạch sẽ. Còn nếu nàng không ký, Tạ Hành sẽ bị đưa qua cánh cửa ngay sau lưng hắn, và phong thư của cha sẽ được mở với tội danh quân cơ treo sẵn trên đầu.

Nàng đặt lệnh đối chứng xuống, giọng bình ổn: “Bản bổ chính không hợp lệ. Dòng tình trạng do người giữ kho ký, lục sự đóng dấu. Người sao mục chỉ ghi nhận lúc đối vật, không có quyền một mình xóa. Muốn sửa phải gọi đủ người lập sổ, ghi nguyên nhân và đóng dấu nối mục.”

Đỗ Nghiêm nhấc mắt. “Không cần xóa. Chỉ cần Tạ nữ quan viết một lời xác nhận riêng rằng vật số bảy không liên quan đến quốc tín.”

“Ta chưa từng được giao quyền kết luận nó có liên quan hay không.” Tạ Uyển nhìn thẳng vào khoảng trắng dành cho tên mình. “Một lời xác nhận vượt quyền vẫn là lời giả. Đính vào hồ sơ nào cũng không thành thật.”

Cao chủ sự ho nhẹ, dường như không muốn tiền đình Đông ty biến thành nơi tranh quy chế của Giám lễ viện. Ông ta chỉ vào phong thư: “Vậy chuyển sang việc chính. Tạ nữ quan có nhận ra nét chữ ngoài phong hay không?”

Tạ Uyển bước đến gần án. Nàng không được cầm thư, chỉ được nhìn qua lớp lưới đồng đặt trên khay. Mực đã ngả nâu. Chữ “Hành” ở mặt ngoài có nét móc cuối hơi thấp, còn chữ “gửi” thiếu một chấm nhỏ vì phụ thân nàng thường nhấc bút quá sớm. Nàng đã từng chép lại những dòng ấy trong đêm cha bị áp giải khỏi kinh, để mẹ không phải nhìn lâu vào tờ cáo trạng. Nhiều năm qua, nàng nghĩ mình đã quên. Hóa ra chỉ là không dám nhớ.

“Là nét chữ của phụ thân ta,” nàng nói. “Ta chỉ có thể nhận chữ ngoài phong. Nội dung chưa mở, không thể xác nhận.”

Tạ Hành bỗng lên tiếng: “A tỷ không cần xác nhận thêm.”

Giọng hắn khàn hơn lần cuối nàng gặp, nhưng không run. Người gác giật dây buộc nơi cổ tay, bắt hắn đứng thẳng. Tạ Uyển nhìn vết đỏ hằn dưới nút dây, cổ họng khép lại. Nỗi sợ nàng đã giữ suốt nhiều năm không đến bằng tiếng khóc hay máu. Nó đứng trước nàng trong áo vải dính bùn, vẫn gọi nàng bằng hai chữ cũ như khi còn nhỏ.

Đỗ Nghiêm nói: “Tạ công tử nên hiểu, một phong thư có nhắc tuyến phòng thủ mà không khai báo sẽ không còn là thư nhà. Nếu Tạ nữ quan không chịu phân rõ, Đông ty buộc phải mở trước quan thẩm. Khi ấy không ai bảo đảm cậu chỉ trở về nơi quản thúc.”

Tạ Hành quay sang hắn. “Thư chưa mở, đại nhân đã biết có nhắc tuyến phòng thủ sao?”

Tiền đình lặng đi. Cao chủ sự nhìn Đỗ Nghiêm, rồi nhìn tờ lệnh đối chứng. Trên lệnh chỉ ghi “liên quan phòng tuyến”, không ghi ai đã đọc nội dung. Đỗ Nghiêm không đổi sắc mặt. “Dựa theo lời tố giác.”

“Vậy xin ghi tên người tố giác.” Tạ Hành nói từng chữ, rõ như đọc bài trước trường thi. “Nếu không thể ghi, xin mở thư theo lệ vật chứng quân cơ, có Đông ty, Lễ bộ và người nhận diện chữ cùng chứng kiến. Đệ là người giữ thư, xin chịu tên trong sổ, không xin xử kín.”

Tạ Uyển khẽ siết ngón tay trong tay áo. Cậu thiếu niên từng vội vàng đuổi theo một cái bóng ngoài ngõ, từng nghĩ chỉ cần tìm được tên người hại cha là có thể phục hồi Tạ gia, giờ đang dùng chính cái tội đặt lên mình để kéo phong thư ra khỏi tay một cuộc mặc cả riêng. Hắn không thoát được cửa ngục, nhưng cũng không để họ đốt thư hoặc đổi lời sau cánh cửa đóng.

Cao chủ sự cau mày. “Người bị xét không được đặt điều kiện.”

“Nhưng vật chứng quân cơ phải có mục lục mở niêm.” Tạ Uyển tiếp lời. “Nếu phong thư được dùng để định tội Tạ Hành, việc mở phải ghi giờ, tình trạng dây buộc, số người chứng và sao hai bản. Ta đã được gọi đến nhận diện chữ, xin Cao chủ sự ghi lời yêu cầu này vào lệnh đối chứng. Sau đó Đông ty xử theo quyền.”

Nàng không cứu được em trai bằng một câu quy chế. Dây trắng vẫn ở cổ tay hắn, cửa ngục vẫn mở phía sau. Nhưng nếu thư được mở công khai, Tưởng không thể vừa dùng nó uy hiếp nàng vừa tùy ý khiến nó biến mất. Một chứng cứ có thể chôn Tạ gia; cũng có thể buộc người muốn chôn họ phải để lại tên.

Đỗ Nghiêm gõ nhẹ đầu ngón tay lên bản bổ chính. “Tạ nữ quan đang chọn một phong thư chưa biết nội dung thay cho em trai mình.”

“Không.” Tạ Uyển đáp. “Người đặt hắn ở đây mới là người chọn.”

Ánh mắt Đỗ Nghiêm lạnh đi một phần. Hắn đẩy nghiên mực về phía nàng. “Vậy ký vào lời yêu cầu mở niêm. Sau khi ký, Tạ Hành sẽ bị tạm giam cho đến khi nội dung được xét. Trước khi hạ bút, Tạ nữ quan vẫn có thể chọn bản kia.”

Hai tờ giấy nằm song song. Một tờ có thể mở dây buộc trên tay em trai ngay lúc này, nhưng cũng mở đường cho bản kê ấn số bảy rời khỏi Đông lang. Tờ còn lại chỉ bảo đảm rằng sự thật, nếu còn trong lá thư, sẽ được nhìn thấy dưới nhiều con mắt; đổi lại, cánh cửa sau lưng Tạ Hành sẽ khép lại.

Tạ Uyển đưa tay về phía bút. Tạ Hành bước lên nửa bước, dây buộc kéo căng. “A tỷ.”

Nàng không nhìn hắn. Nếu nhìn, bàn tay nàng có thể nhớ lại đứa trẻ từng sốt ba ngày, bám lấy tay áo nàng không chịu buông; có thể nhớ mẹ đã nói chỉ cần hai chị em bình an thì danh dự của cha cũng không cần. Nàng đã sống bao năm bằng lời ấy. Giữ lễ, cúi đầu, lùi một bước—mỗi lần đều tự nhủ là để người nhà không phải trả giá.

Tạ Hành nói: “Cha bị giáng không phải vì không biết cúi đầu. Người biết cúi, nhưng không chịu sửa một chữ thành điều mình không thấy.”

Tạ Uyển ngẩng lên.

Hắn nhìn thẳng vào nàng, đôi mắt đỏ vì thiếu ngủ nhưng sáng đến đau. “Đệ mang thư vào kinh không phải để tỷ dùng nó đổi mạng cho đệ. Tạ gia cũng không cần được tha bằng một dòng tỷ viết giả. Nếu hôm nay tỷ ký, ngày mai dù đệ bước ra khỏi đây, đệ cũng không biết phải nhìn bài vị cha thế nào.”

Người gác quát hắn im. Tạ Hành không chống lại khi bị kéo lùi, chỉ giữ ánh mắt trên mặt chị. Tạ Uyển hạ bút xuống tờ yêu cầu mở niêm, viết rõ nàng đã đến trước giờ Dậu, nhận diện nét chữ ngoài phong là của phụ thân, đề nghị mở theo lệ vật chứng quân cơ với đủ người chứng và sao mục. Nàng ký tên, không thêm một chữ nào vào bản bổ chính.

Cao chủ sự đóng dấu Đông ty lên lời yêu cầu. Tiếng dấu gỗ nện xuống án nghe khô và nặng. Đỗ Nghiêm thu bản bổ chính lại, gấp rất chậm. “Tạ nữ quan đã chọn. Từ giờ cho đến khi thư được xét, không được rời tiền đình. Còn bản kê ấn số bảy, Giám lễ viện sẽ xử theo văn thư chính thức, không cần nàng bận tâm.”

Đó không phải lời dọa suông. Tưởng đã mất khẩu lệnh, tất sẽ đưa ra văn thư có dấu. Quốc thư thật vẫn nằm dưới lớp nỉ, nhưng khoảng thời gian nàng mua được đang bị rút ngắn từng khắc. Tạ Uyển nhìn về phía cửa ngục. Người gác đã mở khóa song sắt, chuẩn bị đưa Tạ Hành vào trong chờ mở thư.

Tạ Hành đi qua nàng chỉ cách một cánh tay. Dây trắng trên cổ tay hắn quệt vào tay áo quan phục của nàng, rất khẽ, giống như ngày nhỏ hắn từng níu nàng trước cửa nhà không cho vào cung. Lần này hắn không níu. Trước khi cánh cửa sắt khép lại, hắn quay đầu, nói đủ nhỏ để chỉ nàng nghe, nhưng đủ rõ để không ai có thể giả rằng mình không nghe thấy:

“A tỷ, đừng dừng.”