Chương 36 - Chương 36: Người Mẹ Ngoài Hành Lang
Chương 36: Người Mẹ Ngoài Hành Lang
Mười một giờ mười hai, khi bốn mốc trên bảng vẫn còn nguyên nét mực, đơn vị kế nhiệm Minh Sinh gửi gói tài liệu đầu tiên theo yêu cầu bảo toàn. Gói chỉ có danh mục chuyển giao, bảng ánh xạ thiết bị và danh sách kho dữ liệu; chưa có toàn bộ nhật ký người dùng. Ngô Hà mở tệp trên máy độc lập, ghi mã kiểm tra rồi mới chiếu bản sao đọc. PL-02 không phải tên một máy tính. Trong tài liệu bàn giao bảy năm trước, đó là mã hàng đợi xuất tài liệu của trạm chăm sóc tầng hai, nơi ba máy đầu cuối dùng chung một máy in giữa hành lang. “Mã này cho biết tài liệu đi qua hàng đợi nào,” Ngô Hà nói. “Không cho biết ai bấm xuất.” Lạc Dĩ Hằng gạch dưới ba chữ dùng chung. Một nơi có ba máy, một tài khoản trực ca và một máy in đủ tạo ra nhiều khả năng hơn một cái tên.
Bảng chuyển giao còn liệt kê kho tiếp nhận phản ánh dịch vụ, được giữ lại vì liên quan quyết toán và tranh chấp khách hàng. Lạc yêu cầu chỉ tìm theo mã khách hàng Mạc Thu Dung, không dùng tên người gọi hoặc từ khóa định hướng. Kết quả trả về bốn mục. Ba mục là câu hỏi hóa đơn. Mục thứ tư được lập sáu ngày trước khi bà Mạc tử vong, lúc mười chín giờ mười tám, mang tiêu đề do nhân viên nhập: “Người mẹ ngoài hành lang.” Nội dung ghi người nhà tới thăm ngoài giờ báo trước và thấy bà Mạc ngồi một mình trên ghế nhựa gần cửa cầu thang tầng hai, không có khung tập đi, không có nhân viên bên cạnh; gần mười phút sau mới có người đưa bà về khu sinh hoạt.
Dưới phản ánh có hai trường tách biệt. Trường lời người gọi ghi: “Mẹ tôi không tự đi được xuống chỗ đó.” Phần xử lý nội bộ lại viết: “Người bệnh có xu hướng tự rời vị trí, đã nhắc bộ phận chăm sóc tăng giám sát.” Không có tên người chăm sóc, không có biên bản kiểm tra camera và không ghi vì sao khung tập đi không ở cạnh bà. Phiếu đề nghị chuyển phòng gia đình mang tới được dẫn bằng một mã liên kết, nhưng phản ánh hiện mang trạng thái đã giải quyết. Ngô Hà yêu cầu lấy lịch sử thay đổi riêng, bởi giá trị đang hiển thị có thể là kết quả sau nhiều lần sửa. Trình Vi nhìn sơ đồ tầng hai. Với người chân phải yếu và cần hai người hỗ trợ qua bậc, việc xuất hiện gần cửa cầu thang không thể được giải thích mặc nhiên bằng cụm “tự rời vị trí”. Nhưng nó cũng chưa chứng minh có ai đưa bà tới đó.
Luật sư trợ giúp pháp lý gọi Mạc Thanh Hà qua số đăng ký, bật loa sau khi chị đồng ý và đọc đúng mã phản ánh. Thanh Hà xác nhận người gọi là chị. Hôm đó chị đến muộn, thấy mẹ ngồi dựa lệch trên ghế, hai bàn chân không đặt vững, tay trái bám vào thành. Một nhân viên nói bà Mạc đòi ra ngoài, người khác nói đang đi lấy nước. Thanh Hà yêu cầu xem camera nhưng bị từ chối. “Tôi gọi tổng đài ngay trước mặt họ,” chị nói. “Tôi không nói mẹ tôi tự rời vị trí. Tôi nói mẹ tôi không thể tự đến đó.” Chị cho biết em trai từng chụp một tấm ảnh để hỏi vì sao khung tập đi biến mất, nhưng điện thoại cũ đã hỏng; gia đình sẽ tìm bản sao lưu và chỉ giao qua luật sư nếu còn.
Ngô Hà trích xuất bảng lịch sử của mục phản ánh trong ảnh sao kho dữ liệu. Mục được tạo lúc mười chín giờ mười tám sáu ngày trước sự việc, trạng thái ban đầu là chờ xác minh. Sáng hôm sau, một tài khoản chăm sóc dùng chung thêm dòng “đề nghị điều dưỡng trưởng phản hồi”, nhưng không có phần phản hồi. Mục vẫn mở đến ngày bà Mạc tử vong. Lần thay đổi cuối xảy ra lúc mười giờ mười ba phút lẻ hai giây: trạng thái chuyển sang đã giải quyết, phần xử lý được bổ sung câu “người bệnh tự ý rời khu sinh hoạt”, và mã liên kết tới phiếu chuyển phòng bị gỡ khỏi màn hình chính dù vẫn còn trong bảng quan hệ. Cả ba thao tác được ghi từ phiên gắn với PL-02. Trường người dùng chỉ hiện MS-CS-SHARED.
Trên bảng, 10:12:09 là lúc bản tóm tắt chăm sóc khác nội dung được xuất. 10:13:02 là lúc phản ánh “mẹ tôi không thể tự đến đó” được đóng bằng câu “người bệnh tự ý rời khu sinh hoạt”. Khoảng cách năm mươi ba giây không chứng minh cùng một người thực hiện hai thao tác, bởi phiên dùng chung có thể tồn tại trên nhiều máy và đồng hồ hai hệ thống cần được đối chiếu. Nhưng hai thay đổi cùng một hướng: biến người cần trợ giúp thành người có thể hoặc tự ý di chuyển. Lạc yêu cầu bảo toàn máy chủ thời gian, lịch đăng nhập, danh sách ca trực tầng hai và nhật ký máy in. “Không ghép hai hệ thống bằng cảm giác,” anh nói. “Ghép bằng phiên, máy, đồng hồ và người trực.”
Trình Vi rời phòng kỹ thuật để viết bản ghi nhận giới hạn quan sát. Ngoài hành lang, Trình Dung ngồi sát cửa sổ, hai tay ôm chiếc túi giữ nhiệt màu xám. Bà không hỏi nhân viên đang điều tra gì, chỉ đứng lên khi thấy con gái. “Mẹ mang cháo. Họ bảo con chưa ra.” Trình Vi nhìn đồng hồ. Từ sáng cô chưa ăn, nhưng điều khiến cô đứng yên không phải cơn đói. Một người mẹ khác vừa hiện ra trong hệ thống bằng câu nói của con gái. Mẹ cô thì đang ngồi ngoài hành lang vì không biết phải bước vào đâu trong phần đời con đã giấu suốt bảy năm.
Buổi sáng, cán bộ đã gọi Trình Dung xác nhận chiếc hộp kim loại được cất ở nhà bao lâu và ai có chìa khóa. Sau cuộc gọi, bà tự tới, mang theo giấy tờ nhưng chưa ai cần lấy lời. Bà hỏi Trình Vi đã gặp người nhà bà Mạc chưa. “Họ có mắng con không?” “Không. Họ nói đúng hơn mắng.” Trình Dung ngồi lại, chừa một khoảng bên cạnh. Trình Vi kể trong giới hạn được phép rằng gia đình đã đưa tài liệu, còn cô đã thừa nhận mình biết câu chữ bị bỏ và vẫn ký. Bà nghe hết rồi hỏi: “Ngày trước con không nói với mẹ vì sợ mẹ bảo thôi đi phải không?” Trình Vi không phủ nhận. Sau khi cha mất, mẹ cô sợ mọi cuộc gọi muộn và mọi giấy mời. Cô đã dùng nỗi sợ ấy như một phần lý do để im lặng mà chưa từng hỏi mẹ có muốn trở thành lý do đó hay không.
“Mẹ từng muốn con sống yên,” Trình Dung nói. “Mẹ vẫn muốn. Nhưng sống yên không phải để người khác lấy tên con viết điều con không tin, rồi con mang nó về giấu trong tủ.” Bà chỉnh lại mép túi giữ nhiệt, không chạm vào con gái. “Con đừng xin mẹ cho phép con làm đúng. Cũng đừng lấy mẹ ra để giải thích lần con không làm.” Trình Vi cúi nhìn hai bàn tay. Cô đã chuẩn bị chịu trách vì giữ tài liệu trái quy trình, nhưng không chuẩn bị cho việc mẹ tước khỏi cô một lời bào chữa cuối cùng. “Con biết,” cô nói. Trình Dung lắc đầu. “Biết thì lần này làm đến nơi. Còn về nhà ăn cơm hay không, nhắn mẹ một câu.”
Cửa thang máy mở. Hứa Ninh bước ra cùng Phó Dao, trên tay là phong bì niêm kín có chữ ký pháp chế tòa soạn. Cô dừng khi thấy Trình Dung. Phó Dao tiến tới quầy tiếp nhận, còn Hứa đứng cách ba bước, không hỏi Trình Vi vừa biết gì. Trình Dung khẽ gật đầu. Hứa đáp lại rồi đặt một chai nước còn nguyên niêm phong lên bàn nhỏ. “Phó Dao nộp bản xác nhận phạm vi xung đột lợi ích,” cô nói. “Tôi chỉ đi cùng đến cửa.” Trình Vi nhìn khoảng cách Hứa chủ động giữ. “Tôi biết,” cô đáp. Lần này câu ấy không có nghĩa đẩy người kia ra xa; nó chỉ ghi nhận một hành động đúng như chính nó.
Lạc mở cửa gọi Trình Vi trở lại với tư cách người cung cấp chuyên môn giới hạn, còn Hứa và Trình Dung tiếp tục ở ngoài hành lang. Trước khi vào, Trình Vi đặt túi cháo vào tay mẹ. “Mẹ giữ giúp con mười phút.” Trình Dung nhận lấy, không hỏi mười phút có thật là mười phút hay không. Hứa kéo ghế tránh lối đi cho bà. Hai người không nói chuyện về vụ án. Một người là mẹ của người đã ký báo cáo; người kia là nhà báo từng giấu lý do tìm đến người ký. Việc họ cùng ngồi ngoài cánh cửa không xóa điều gì, nhưng cũng không còn là một sự sắp đặt buộc Trình Vi phải lựa chọn giữa người thân và sự thật.
Trong phòng, Ngô Hà đặt hai bản ghi cạnh nhau. Bản sao lưu chụp lúc ba giờ sáng ngày bà Mạc tử vong vẫn giữ trạng thái chờ xác minh và câu: “Mẹ tôi không tự đi được xuống chỗ đó.” Bản hiện hành sau 10:13:02 đổi thành “người bệnh tự ý rời khu sinh hoạt”, đồng thời xóa liên kết hiển thị tới phiếu đề nghị chuyển phòng. Đây là lần đầu họ có lịch sử thay đổi thực sự, không chỉ hai tài liệu khác nội dung. Tuy vậy, MS-CS-SHARED vẫn là tài khoản dùng chung, PL-02 vẫn là hàng đợi của ba máy, và chưa có log hệ điều hành để xác định người thao tác. Trình Vi nói: “Phần bị đổi không chỉ là trạng thái xử lý. Nó đổi chủ thể chịu trách nhiệm. Từ cơ sở không giám sát thành người bệnh tự ý đi.” Ngô Hà ghi câu đó như nhận định về ngôn ngữ, không phải kết luận về ý đồ.
Lạc kéo thêm một đường trên bảng: 10:11:14 cuộc gọi kết thúc; 10:12:09 xuất tóm tắt chăm sóc; 10:13:02 đóng phản ánh và thêm câu quy trách nhiệm cho người bệnh; 10:15 phát hành thư xác nhận tai nạn. Cán bộ phụ trách kho lưu trữ báo thêm một chi tiết từ danh sách ca trực tầng hai. Tài khoản MS-CS-SHARED được bàn giao trên giấy cho hai nhân viên, nhưng phần giao ca sáng ngày bà Mạc tử vong có dòng viết thêm bằng mực khác: “Quyền xử lý phản ánh chuyển phòng quản lý theo yêu cầu pháp lý.” Ô người nhận không có tên, chỉ có hai chữ cái T.Q. Trình Vi nhìn ký hiệu ấy. TQ từng xuất hiện trong điện thoại quản lý Tôn ở vụ ông Lý, nhưng một ký hiệu lặp chưa phải một con người. Lạc lập tức yêu cầu bản gốc sổ giao ca và mẫu chữ độc lập. Ngoài hành lang, hộp cháo vẫn còn ấm. Trong phòng, một người không có tên vừa bước vào dòng thời gian bằng đúng hai chữ đã xuất hiện ở một vụ khác.
