Bỏ qua nội dung

Vet Son Tren Co Tay

Chương 43 - Chương 43: Người Sống Mang Tên Chết

Chương 43: Người Sống Mang Tên Chết

Mảnh thư không có phong bì, nhưng một góc giấy giữ lại ba hạt cám vàng mắc trong thớ. Lục Thanh đưa nó sát ngọn đèn của lão giữ mộ, không chạm tay trần vào mặt chữ. Dọc nếp gấp ngoài cùng có một vệt xanh nhạt, không phải mực viết mà là màu chàm từ sợi dây buộc hàng. “Người mang thư bán gạo thật,” nàng nói. “Hoặc ít nhất đã cầm bao gạo đủ lâu để cám và màu dây bám vào giấy.”

Mẹ Tú Cúc nhìn mảnh giấy như nhìn một vật vừa cứu con mình, vừa có thể hại nó thêm lần nữa. Bà cố nhớ người đã nhét thư dưới cửa: một phụ nhân thấp, vai lệch, gánh hai thúng nhỏ, dây buộc miệng bao nhuộm xanh. Phường trưởng Tây giao nghe tới đó liền quay sang con đường dưới gò. “Bà Lâm bán gạo vụn. Vai trái bà ấy thấp vì năm trước ngã đòn gánh. Nhà ở cạnh cống tây.”

Đỗ Mạnh hỏi có nên đưa cha mẹ họ Trần về trước. Thanh lắc đầu. “Họ là người nhận thư và người nhận dạng. Nhưng từ đây không ai được gọi lớn tên Tú Cúc.” Nàng gấp mảnh thư theo đúng nếp cũ, đặt giữa hai tờ giấy sạch rồi giao phường trưởng niêm tạm. Mộ số mười bảy vẫn có người canh; hũ, áo và dây niêm không rời hiện trường.

Nhà bà Lâm chỉ cách gò bách hơn nửa dặm. Khi họ tới, trời đã bạc một đường mỏng phía đông. Bà lão mở cửa, nhìn thấy phường trưởng thì lập tức bảo mình đã nộp đủ thuế gạo tháng này. Chỉ đến khi mẹ Tú Cúc nhắc chiếc thư ba năm trước, bàn tay bà mới siết chặt then cửa.

“Ta không nhớ.”

Thanh không đưa thư ra. “Bà nhớ nên mới sợ. Người nhờ bà chuyển thư còn sống hay đã chết, chúng ta chưa biết. Nhưng nếu bà nói sai, kẻ muốn tìm nàng sẽ đi đúng con đường chúng ta vừa đi.”

Bà Lâm nhìn Đỗ Mạnh, lại nhìn dấu niêm của phường trưởng. “Các người bắt nàng vì dùng tên giả sao?”

“Chưa có ai để bắt,” Thanh đáp. “Chỉ có một người có thể đã bị khai tử, và một mảnh thư cần xác thực.”

Sự im lặng kéo dài cho tới khi tiếng nước qua cống vọng vào sân. Cuối cùng bà Lâm thú nhận năm ấy có một cô gái tới mua gạo vụn vào mỗi ngày mười lăm. Cô che nửa mặt, bước chân phải hơi kéo, thường trả tiền bằng đồng tiền đã cạo mất chữ. Sau vài tháng, cô nhờ bà chuyển thư tới nhà họ Trần và dặn nếu bị hỏi thì nói không biết chữ.

“Sau đó nàng đi đâu?” Đỗ Mạnh hỏi.

“Không đi.” Bà Lâm hạ giọng. “Vẫn ở kho nhuộm bỏ hoang sau cống. Đổi tên, đổi áo, nhưng chưa từng rời khỏi phía tây. Ta mang gạo tới vì nàng không dám bước qua cổng phường ban ngày.”

Phường trưởng biến sắc. “Giấu người không hộ tịch là tội.”

“Vậy để nàng chết đói cho đúng luật sao?” Bà Lâm bật lại, rồi lập tức cắn môi.

Thanh yêu cầu bà dẫn đường và để phường trưởng ghi rõ bà tự nguyện chỉ nơi ở trong vụ báo tử giả. Đỗ Mạnh đi trước kiểm lối, cha mẹ họ Trần theo sau. Khi qua cống, Thanh nhìn về hướng Hầu phủ. Mái thành còn chìm trong sương, không có tín hiệu, không có người đưa tin. Vết cắt dưới băng vải giật theo nhịp mạch. Nàng ép tay sát thân áo rồi tiếp tục bước.

Kho nhuộm cũ chỉ còn ba bức tường, mái phía sau sụp một nửa. Dưới hiên có tro bếp mới, một nồi nước gạo còn ấm và sợi vải xanh đang phơi. Người trong nhà đã nghe tiếng chân. Cửa hậu bật mở, một bóng nữ tử lao qua đám lau, chân phải kéo nhẹ đúng như lời bà Lâm.

Đỗ Mạnh vòng sang chặn bờ mương nhưng không rút đao. Nữ tử bị dồn giữa tường đất và dòng nước, tay cầm mảnh sành sắc. Nàng gầy hơn tuổi, tóc cắt ngắn, bên thái dương có một vết sẹo nhỏ. “Đừng gọi tên ta,” nàng nói trước khi bất kỳ ai kịp hỏi. “Tên nào các người có cũng không phải của ta.”

Mẹ Tú Cúc đứng sững. Bà không kêu con, chỉ nhìn xuống chân phải của người kia. “Năm mười hai tuổi, con ngã liềm cắt vào mắt cá. Mỗi khi trời lạnh, chân sẽ kéo.”

Nữ tử siết mảnh sành đến lòng bàn tay rướm đỏ. “Bà nhận nhầm rồi.”

“Đường vá hình lá liễu ở vai áo, là vì con chê ta vá tròn giống mắt cá chết.” Giọng người mẹ vỡ đi nhưng không cao. “Con tự vẽ lá cho ta xem.”

Thanh không tiến gần. “Ta không cần cô nhận tên trước mặt mọi người. Ta cần cô đặt mảnh sành xuống để bàn tay không thành một vết thương mới. Thư gửi nhà họ Trần có nét chấm dưới chữ cuối. Cô có thể viết lại một câu, hoặc từ chối. Cả hai đều sẽ được ghi.”

Nữ tử nhìn nàng rất lâu. Ánh mắt dừng ở túi dụng cụ cũ bên hông, rồi ở băng vải trên cánh tay. “Ngỗ tác Lục Thanh?”

Câu hỏi ấy khiến Đỗ Mạnh nhích chân, nhưng Thanh chỉ đáp: “Phải.”

Mảnh sành rơi xuống bùn.

Trong kho nhuộm, nữ tử tự xưng là Tống Nguyệt Nương. Nàng lấy từ khe tường một tờ lộ dẫn đã mềm vì gấp nhiều lần. Giấy thật, ấn thật, tên cha mẹ và quê quán đều đủ. Phường trưởng vừa nhìn đã nói có hộ tịch thì không thể gọi là người trốn. Thanh lại thấy ở mép dưới một đường cạo mảnh, nơi mực đỏ từng bám rồi bị phủ bằng lớp hồ loãng. Nàng không kết luận tại chỗ, chỉ hỏi người trước mặt ngày sinh và tên thôn. Nữ tử trả lời trôi chảy, nhưng khi hỏi giếng làng nằm hướng nào, nàng im lặng.

“Ta chưa từng tới quê của Tống Nguyệt Nương,” nàng nói. “Ta chỉ biết nàng chết trước khi ta bị đưa vào gian phía tây của Hình bộ hai ngày.”

Cha Tú Cúc lùi một bước. Người mẹ không khóc nữa, chỉ ngồi xuống chiếc ghế gãy như đầu gối không còn sức. Nữ tử kể trong gian giam có bốn cô gái. Mỗi người bị bắt học một tên mới, tuổi mới, quê mới. Người dạy cầm thước gỗ; ai đọc sai sẽ bị bỏ bữa. Tống Nguyệt Nương sốt chết, xác được đưa đi ban đêm. Ba ngày sau, giấy của nàng được trao cho Tú Cúc, bắt nàng chỉ quay đầu khi nghe cái tên ấy. Sáu tháng sau, tên Trần Tú Cúc bị ghi chết, còn nàng bị bán qua ba chủ.

“Ta trốn được ở bến phía tây,” nàng nói. “Nhưng không thể dùng tên thật. Tên Tú Cúc đã chết trong sổ. Dùng nó, quan sẽ bắt ta vì giả làm người chết. Bỏ tờ lộ dẫn này, ta không thuê được phòng, không qua cổng, cũng không mua thuốc. Giữ nó, ta thành kẻ trộm đời của một người đã chết.”

Phường trưởng siết quyển sổ trong tay. “Dù bị ép, dùng hộ tịch người khác vẫn phải giải lên nha môn.”

Nữ tử lập tức đứng dậy. Đỗ Mạnh chắn cửa nhưng vẫn để hai tay trống. Thanh nhìn tờ lộ dẫn rồi nhìn mảnh thư đã niêm. “Giải nàng bằng tên nào?” nàng hỏi. “Nếu ghi Tống Nguyệt Nương, ông thừa nhận người đã chết đang sống. Nếu ghi Trần Tú Cúc, ông phải thừa nhận giấy báo tử và mộ kia là giả. Trước khi hai việc ấy được xác minh, nàng không phải phạm nhân có tên rõ ràng. Nàng là nhân chứng chưa xác định hộ tịch.”

“Cô đang lách luật.”

“Không. Ta ngăn ông dùng một tờ giấy đáng ngờ để chứng minh chính nó là thật.” Thanh chỉ vào vết cạo dưới lớp hồ. “Đưa nàng vào lao lúc này, người sửa được án tử cũng sẽ sửa được sổ nhận tù. Hãy đưa tới y quán, ghi là nhân chứng cần kiểm thương và đối chiếu bệnh trạng. Ông cử người canh, Đỗ Mạnh ký nhận. Khi có bản đối chiếu, ông muốn giải đi đâu thì ghi rõ người chịu trách nhiệm.”

Phường trưởng không thích, nhưng không thể bác mà không tự xác nhận một trong hai cái tên. Ông ghi dưới sự chứng kiến của mọi người. Nữ tử đồng ý đi với điều kiện không ai gọi tên nàng ngoài phòng kín. Trên giấy tạm, Thanh để trống mục họ tên.

Khi họ trở lại y quán, mặt trời chưa nhô hẳn nhưng phố đã có tiếng mở cửa. Hải Đường vẫn thở đều, giọng còn khàn; Tang Ngọc vừa thay khăn thuốc. A Miên lắc đầu khi Thanh hỏi tin Hầu phủ. Dao vẫn không gửi được một chữ.

Tang Ngọc nhìn tờ lộ dẫn, sắc mặt đổi ngay khi nghe tên Tống Nguyệt Nương. Nàng mở hòm bệnh trạng cũ, lần theo năm và dấu đóng. Trong một tập giấy bị ép ký cùng thời với hồ sơ Tú Cúc có một dòng: Tống Nguyệt Nương, mười chín tuổi, chết vì nhiệt chứng, thi thể đã giao thân thuộc. Phần nhận xác dùng cùng kiểu dấu tay tròn không vết sẹo, chữ viết cùng một người với giấy giao tro họ Trần.

Nữ tử ngồi trước bàn, cầm bút bằng tay phải. Nàng viết lại hai câu trong thư gửi mẹ. Nét cuối kéo dài, dưới chữ sau cùng có một chấm nhỏ. Sau đó nàng kéo ống quần lên, để lộ vết sẹo hình lưỡi liềm ở mắt cá. Mẹ Tú Cúc đưa tay tới nhưng dừng cách da con một đốt ngón. “Ta không gọi,” bà nói. “Con muốn mang tên nào thì mang. Chỉ cần còn sống.”

Nữ tử quay mặt đi. Thanh thấy vai nàng rung một lần rồi thôi. Ba năm sống bằng tên người chết đã khiến tên thật cũng giống một cánh cửa có bẫy.

Tang Ngọc vừa niêm bản đối chiếu thì nữ tử chợt nhìn thấy dải giấy rách lấy từ kẻ truy sát đặt trong khay chứng vật. Nàng chụp lấy mép bàn, môi mất màu. “Dấu cắt này dùng cho lệnh thu hồi tên.”

Đỗ Mạnh hỏi: “Thu hồi là gì?”

“Giết người đang mang tên mượn, lấy lại giấy, rồi giao tên ấy cho người khác.” Nàng nhìn về phía đông, nơi tiếng chuông phường bỗng dồn dập vang lên. “Nếu họ đã bắt đầu thu hồi, người đầu tiên họ tìm không phải ta. Là người giữ danh sách tên thật và tên chết.”

Ngoài ngõ, một người canh của Lưu Hương chạy tới, áo ám khói, chưa vào cửa đã gào khản giọng: “Mạnh Nương bảo cứu sổ! Lưu Hương cháy rồi!”