Bỏ qua nội dung

Vet Son Tren Co Tay

Chương 42 - Chương 42: Mộ Không Tro

Chương 42: Mộ Không Tro

“Từ Kính.” Cái tên rơi xuống căn phòng thuốc mà không gây tiếng động, nhưng Lục Thanh vẫn có cảm giác ngọn đèn trên bàn vừa thấp đi. Nàng không hỏi lại. Một cái tên nói trong sợ hãi rất dễ thành lời đồn; một cái tên được ghi đúng lúc, đúng người nghe và đúng vật chứng mới có thể đứng trước công đường. Thanh kéo tờ xác nhận về phía Tang Ngọc. “Cô ghi nguyên lời ông ta đã nói, nơi ông ta ngồi và ai có mặt. Phần không nhớ thì để trống.”

Tang Ngọc gật đầu. Đầu bút run một lần rồi ổn lại. Đỗ Mạnh đợi nàng viết xong mới hỏi: “Có tên Hữu thị lang, có bệnh trạng giả, có mảnh giấy từ kẻ truy sát. Chúng ta báo nha môn ngay không?”

“Báo để ai nhận?” Thanh đáp. “Tên Từ Kính là hướng điều tra, chưa phải bản án.” Nàng để Tang Ngọc tự tay niêm bản sao mặt sau bệnh trạng. Bản gốc vẫn nằm giữa hai thanh gỗ sạch. “Trước hết phải biết người được ghi đã chết có thật sự nằm dưới mộ hay không.”

Hải Đường vẫn ngồi dựa cao, cổ quấn khăn ấm, nhịp thở đã đều hơn nhưng mỗi lần nuốt nước còn nhíu mày. Tang Ngọc kiểm chỗ sưng rồi nói chưa thể để nàng một mình. Thanh quyết định Tang Ngọc và A Miên ở lại, phường trưởng cho hai người canh ngõ. Hải Đường khàn giọng hỏi về lời khai, nàng chỉ đáp: “Khi cô thở và nuốt bình thường. Một lời lấy lúc người nói sợ nghẹt thở sẽ bị bẻ thành mê sảng.”

Cánh tay bị băng kéo căng khi Thanh khoác áo. Vết xước nhắc nàng Dao vẫn chưa có tin, nhưng khoảng trống ấy không thể đảo thứ tự phải làm: người sống ở y quán, giấy đang được giữ, rồi mới tới ngôi mộ của một người có thể chưa từng chết.

Do đang bị đình việc, Thanh không có quyền tự ý khai mộ. Đỗ Mạnh dùng lệnh tuần đêm gọi phường trưởng Tây giao và người giữ gò bách; họ còn phải có người nhà họ Trần, giấy đồng thuận, giờ mở mộ và tên từng người chạm vào đất. Khi rời y quán, canh tư đã qua quá nửa. Mưa ngừng nhưng gió phía tây còn mang hơi đất lạnh, quất qua lớp áo khiến vết thương nơi tay nàng nhói từng nhịp.

Nhà họ Trần nằm cuối một con ngõ thấp gần ruộng rau. Người đàn ông mở cửa nghe tới tên Trần Tú Cúc liền nhìn sang hàng xóm như sợ cái tên bò qua vách. Ông tự xưng là cha nàng rồi nói con gái đã chết bệnh ba năm trước, tro đã nhận, mộ đã lập, không còn gì để hỏi.

Thanh đưa bản sao giấy giao tro ra nhưng không để ông cầm. “Ông có nhìn thấy tro không?”

“Hũ đã niêm.”

“Ai viết dòng xác nhận gia đình đã nhận?”

Người đàn ông im lặng. Dưới ánh đèn, ngón tay cái ông có một vết sẹo chạy ngang bụng ngón. Dấu tay trên giấy bệnh còn nguyên vòng xoáy, không có đường cắt ấy. “Dấu tay này không phải của ông,” Thanh nói. “Chữ ký cũng không phải. Ông biết viết tên mình không?”

Từ trong nhà, một phụ nhân đứng tuổi lên tiếng: “Ông ấy chỉ biết vẽ một nét ngang để tính bó rau.” Bà bước ra, chân trần dính đất bếp. “Các người muốn đào thì đào. Nhưng đừng bắt chúng tôi nhận thêm lần nữa rằng nó đã chết.”

Trước mặt phường trưởng, bà kể bốn năm trước nhà mắc nợ tiền thuốc và tiền giống. Một bà mối họ Vạn hứa đưa Tú Cúc vào nhà giàu làm hầu, trả trước tám quan. Họ đã lăn tay bán con. Nửa năm sau, hai người mặc áo công sai mang giấy báo tử, nói nàng bạo bệnh chết trong chỗ giam giữ. Họ để lại hũ niêm cùng ít bạc mai táng, dọa nếu không nhận thì cả nhà sẽ vào lao vì bán người.

Thanh không hứa họ vô can. “Tối nay chỉ xác minh ngôi mộ. Việc bán người sẽ được ghi riêng. Ông có thể không mở, nhưng khi ấy giấy Hình bộ vẫn được xem là đúng.”

Phụ nhân mang ra một hộp gỗ nhỏ, bên trong có kim gỉ, hai cúc áo và mảnh vải xanh đã phai. “Trước khi hũ tới, có người hỏi xin áo cũ của con bé, nói bỏ vào mộ để hồn nó nhận đường về. Tôi đưa chiếc áo chàm có đường vá ở vai. Nếu trong mộ thật có tro, áo ấy phải ở ngoài hũ. Nếu chỉ có áo…” Bà không nói hết.

Người cha cuối cùng đặt ngón tay lên giấy đồng thuận. Phường trưởng ghi rõ ông không biết chữ, tự nguyện lăn dấu trước mặt mọi người. Dấu tay mới có vết sẹo cắt ngang, càng cho thấy dấu trên giấy giao tro thuộc về kẻ khác.

Gò bách phía tây nằm sau một dải đất lở, mộ xếp thành hai hàng không đều. Mộ số mười bảy ở cuối hàng dưới, bia thấp, rêu ăn gần nửa mặt. Tên Trần Tú Cúc còn đọc được, nhưng chữ cuối thiếu một nét móc. Mẹ nàng nói người khắc bia đã chép sai đúng lỗi trên tờ báo tử.

Lão giữ mộ mở sổ bọc vải dầu. Ông nhớ vụ chôn ấy vì người của quan tới sát giờ đóng cổng, không có tang quyến, không nhang đèn. Họ thuê hai phu đào huyệt nông vừa đủ đặt hũ. “Hũ nhẹ,” lão nói. “Ta tưởng người bị thiêu thì tro ít. Quan sai không cho hỏi.”

Thanh quỳ bên mép mộ, dùng que tre đo lớp đất và nhìn rễ cỏ. Đất đã kết tự nhiên, rễ bách non xuyên qua không bị đứt, chứng tỏ từ khi chôn chưa ai mở. Nàng đọc lớn từng bước để phường trưởng ghi: bia nguyên, đất không có dấu đào lại, hũ nằm sâu ba gang rưỡi, nắp quay phía đông. Chỉ khi tất cả xác nhận, Đỗ Mạnh mới nhấc phiến đá che hốc.

Chiếc hũ men xám hiện ra dưới đất ẩm. Dây niêm đã mục nhưng nút còn nguyên. Thanh dùng kẹp tre nâng dây, để lão giữ mộ cắt đúng chỗ đã đánh dấu. Hũ nhẹ hơn bình thường; khi nghiêng, bên trong không có tiếng hạt xương vụn, chỉ có tiếng vải khô cọ vào men.

Nắp được mở trước mặt sáu người. Không có tro.

Bên trong chỉ là chiếc áo chàm cũ gấp chặt, vai trái có đường vá hình lá liễu. Không có bụi xám, mảnh xương cháy, mùi khói hay dấu vải từng qua lửa. Giữa các nếp áo còn mùi long não, thứ dùng giữ quần áo khỏi mọt. Thanh đặt giấy trắng dưới miệng hũ rồi dốc nhẹ. Chỉ vài sợi vải mục và hạt đất rơi xuống.

Mẹ Tú Cúc chạm vào đường vá nhưng không lấy áo ra. “Tôi vá chỗ này. Nó bị móc vào hàng rào hôm theo người ta đi.” Người cha nhắm mắt rồi thú nhận bà mối họ Vạn đã lấy luôn áo khi đưa Tú Cúc đi. Ba năm trước, gia đình không trực tiếp nhận hũ; một kẻ khác lăn dấu thay rồi bảo họ cứ nhớ rằng đã nhận tro.

Đỗ Mạnh nhìn chiếc hũ rỗng. “Vậy Trần Tú Cúc chưa chết.”

“Chưa thể kết luận nàng còn sống.” Thanh đáp. “Chỉ có thể kết luận Hình bộ không giao tro cốt, gia đình không xác nhận bằng dấu tay của mình, và ngôi mộ được lập bằng áo cũ. Một cái chết không có thi thể, không có tro, không có người nhận thật.” Nàng nhìn tên sai nét trên bia. “Giấy đã chôn nàng trước.”

Phường trưởng cho niêm lại hũ, áo và dây cũ tại mộ, cử người canh cho tới khi có lệnh chính thức. Nhà họ Trần ký lời khai riêng. Dấu tay người cha run và nhòe, phải lăn lại bên cạnh, nhưng lần này vết sẹo hiện rõ. Một dấu thật, dù xấu, vẫn có giá trị hơn dấu đẹp của kẻ không tên.

Khi mọi người chuẩn bị rời gò, mẹ Tú Cúc níu tay áo Thanh. Bà lấy từ lớp lót hộp gỗ một mảnh giấy mỏng đã gấp đến bạc mép. “Cái này tới sau khi lập mộ bảy tháng. Một người bán gạo nhét dưới cửa rồi đi. Tôi không dám đưa cho chồng.”

Trên giấy chỉ có hai dòng, mực đã nhạt. Phụ nhân đưa thêm mảnh giấy cũ nơi Tú Cúc từng tập viết tên; cả hai cùng có thói quen kéo dài nét cuối rồi chấm một điểm nhỏ bên dưới. Thanh không gọi đó là chứng cứ xác thực, nhưng cũng không thể xem là trùng hợp.

Dòng đầu viết: “Mẹ, con còn sống.” Dòng sau viết: “Đừng tìm tên Tú Cúc nữa; họ đã cho con tên của một người chết.”

Gió lùa qua hàng bách làm tờ giấy rung trong tay Thanh. Nàng nghĩ tới cô gái Cúc vừa chết ở Lưu Hương dưới chính cái tên này, tới bệnh trạng của Tang Ngọc và chiếc hũ chỉ chứa áo cũ. Một cái tên đã được dùng để chôn người sống, rồi lại phủ lên một người khác cho đến khi người ấy thật sự chết. Nếu mảnh giấy là thật, Trần Tú Cúc không biến mất sau đêm ở Hình bộ. Nàng chỉ bị buộc phải sống bằng tên của một người đã chết.