Chương 44 - Chương 44: Giá Gả Một Thành
Chương 44: Giá Gả Một Thành
Mùi sáp niêm vẫn bám trên tay áo khi tiếng mõ canh năm vọng qua mái tây khố. Mạnh cô cô không đi thẳng về Nội Lễ ty. Bà dẫn Tạ Uyển men theo bức tường phía bắc, qua hai lần cửa nhỏ rồi mới dừng dưới một mái hiên dùng để hong đồ tế cũ. Phó Cẩn theo sau đến ngã rẽ, không nói thêm lời nào. Trước khi tách khỏi họ, hắn chỉ khẽ gõ hai ngón tay lên chuôi đao, như nhắc rằng dấu tay của hắn đã nằm trong sổ trực và từ giờ không thể thu lại.
“Đừng nhắc ba chữ ấy ở ngoài phòng kín,” Mạnh cô cô nói khi bóng hắn khuất hẳn. “Tĩnh Bắc không phải một trấn để người trong cung đem ra bàn như một món hồi môn.”
Tạ Uyển nhìn thẻ dập trong tay áo. Những lỗ kim nhỏ không có chữ, nhưng mỗi lỗ đều như châm sâu dưới lớp quan phục. “Vậy nó là gì?”
Mạnh cô cô lấy chìa khóa kho phụ của Nội Lễ ty. “Muốn biết, phải xem đường kiệu của công chúa sẽ đi qua đâu.”
Trong kho phụ, những giá sổ cũ phủ vải xanh đã bám mùi giấy ẩm. Nội Lễ không giữ hồ sơ quân cơ, nhưng mọi đoàn nghi trượng qua cửa quan đều phải ghi trạm nghỉ, nơi đổi ngựa, số xe và loại niêm được phép mở dọc đường. Lễ nghi không giữ thành, song nó ghi lại con đường người ta dùng để bước vào thành.
Tạ Uyển đặt bản trình tuyến tùy giá năm nay bên cạnh sổ nghênh sứ Bắc Yên từ sáu năm trước. Những trang đầu chỉ khác số xe và tên người hộ tống. Đến chặng thứ bảy, tuyến cũ vòng xuống Nam Quan, còn tuyến mới lại bẻ lên Tĩnh Bắc, dừng một đêm ở “phụ khố tả”, hôm sau đổi ngựa tại “phụ khố hữu” rồi mới theo đường sông sang cửa dịch.
“Đội tùy giá quá đông nên họ xin đổi đường,” Tạ Uyển đọc lời chú bên lề.
“Xem số xe.”
Sau các xe lễ vật và y phục là chín xe ghi “dụng cụ sửa nghi trượng”, mỗi xe có bốn thợ đi kèm. Những người ấy không thuộc Tượng tác giám, không có quê quán Đại Lương, chỉ được ghi bằng tên phiên âm Bắc Yên. Trong cột xin cấp nước, họ yêu cầu mở giếng nội khố; trong cột đổi ngựa, họ xin dùng mã bài bốn trạm — loại bài dành cho quân báo khẩn. Cả hai yêu cầu đều bị giấu dưới dấu son “theo lệ tiễn giá”.
Mạnh cô cô kéo một cuốn sổ mỏng ra khỏi ngăn cuối. Sáu năm trước, phụ khố tả đã bị niêm vì giếng cạn. Phụ khố hữu vẫn dùng được, nhưng chỉ cấp cho quân trấn và người mang hỏa bài. Gần mép trang có một hàng chữ nhỏ: “Bản mộc tuyến bắc chuyển lưu khố hữu, không cấp người ngoài.”
“Bản mộc?” Tạ Uyển hỏi.
“Bản khắc đường dịch, khe núi, cầu gỗ và số ngày quân lương có thể đi.” Mạnh cô cô đặt ngón tay lên hàng chữ. “Tĩnh Bắc giữ cửa đá phía bắc. Hai phụ khố giữ ngựa, lương và bản mộc của ba tuyến tiếp viện. Giao một trấn là giao cái then. Giao thêm hai khố là đặt chìa khóa vào tay người khác.”
Ngọn đèn nổ một tiếng nhỏ. Tạ Uyển đã nghĩ điều khoản trong quốc thư là giá để Bắc Yên chịu đình chiến. Bây giờ nàng hiểu đình chiến chỉ là lớp lụa phủ ngoài. Có Tĩnh Bắc, họ không cần đánh ngay. Ba năm hòa ước đủ để đo đường tiếp viện, biết nơi nào thiếu lương, cửa nào xe nặng không qua được, mùa nào quân Đại Lương phải đổi ngựa.
“Không chỉ nhượng đất,” nàng nói. “Họ đổi công chúa lấy tin quân cơ.”
“Và có người trong triều đã định giá cả hai từ trước.”
Bên ngoài vang lên tiếng chân gấp. Một tiểu lại Nội Lễ quỳ trước cửa, đưa vào hai phiếu truyền. Phiếu thứ nhất từ Kinh Triệu phủ, yêu cầu Tạ Uyển sau giờ mão đến nhận diện một đoạn bút tích trong vật thu từ Tạ Hành. Phiếu thứ hai mang dấu sứ quán Bắc Yên: Hạ Lan Việt xin đối lễ tại Vĩnh Ninh ngay đầu giờ mão, lấy cớ kiểm nghi thức trao khóa bình an trên xe giá.
Hai tờ giấy cùng đặt trước mặt nàng. Một tờ kéo nàng về phía em trai, một tờ kéo nàng về phía người đang bị dùng làm mốc chuyển giao cả một biên trấn.
Mạnh cô cô nhìn nàng. “Kinh Triệu có thể đợi một canh giờ nếu Nội Lễ đóng dấu bận công vụ. Sứ thần thì đang thử xem đêm qua ai đã chạm vào hòm.”
Tạ Uyển gấp phiếu Kinh Triệu, đặt dưới nghiên mực. “Xin cô cô ghi giờ nhận và lý do chậm đến. Không được để họ nói ta trốn đối bút.”
“Còn cuốn sổ này?”
“Để nguyên.” Nàng chép số mục của hai trang, không chép nội dung. “Mang đi sẽ biến nó thành tang vật trong tay ta. Ở lại, nó vẫn là sổ công.”
Khi Tạ Uyển đến Vĩnh Ninh, trời mới hửng một đường xám sau mái điện. Trước bậc đá đã đặt một án dài phủ gấm đỏ. Hạ Lan Việt đứng phía đông, áo sứ màu sẫm, nét mặt ôn hòa đến mức không ai có thể bắt lỗi. Phía sau hắn là hai tùy quan và một chiếc khay gỗ đặt ba khóa ngọc: một hình chim, một hình sóng nước, chiếc cuối khắc cổng thành có hai ô vuông lệch nhau.
Chiêu Nghi ngồi sau rèm châu. Ánh sáng chưa đủ mạnh, Tạ Uyển chỉ nhìn thấy đường nghiêng của vai nàng và bàn tay đặt trên thành ghế. A Nhiễm đứng phía sau, mắt đỏ vì thiếu ngủ nhưng không dám nhìn thẳng sang Tạ Uyển.
Hạ Lan Việt hành lễ đúng phép. “Theo tục Bắc Yên, người xuất giá chọn một khóa bình an treo ở xe đầu. Khóa chim cầu thư tín thông, khóa nước cầu đường sông yên, khóa thành cầu cửa quan mở. Hạ thần xin điện hạ tự chọn.”
Một nghi thức không có trong lễ chế Đại Lương. Nếu Chiêu Nghi từ chối, Bắc Yên có thể nói nàng bất kính tục nước chồng. Nếu nàng nhận, lựa chọn nào cũng có thể bị diễn giải thành lời thuận theo. Tạ Uyển bước lên nửa bước. “Tục ngoại bang chỉ được nhập lễ khi đã ghi vào phụ mục và được hai bộ đối chuẩn. Khóa bình an chưa có trong sổ, chỉ được xem là lễ vật, không thay lời định ước.”
Hạ Lan Việt mỉm cười. “Chỉ là một món ngọc, sao có thể thay quốc thư?”
Hắn nhắc quốc thư quá nhẹ, như thể không biết đêm qua có ai đã nhìn thấy hai bản. Tạ Uyển yêu cầu tùy quan xoay khay theo hướng nam, bởi đồ dâng công chúa Đại Lương không được để mũi chim và cửa khóa chĩa thẳng vào chính điện. Khi khay đổi hướng, chiếc khóa thành lộ mặt sau. Hai ô vuông không phải hoa văn. Chúng là hai dấu khố, một trái một phải, giống hệt ký hiệu trên khăn A Nhiễm.
Sau rèm, ngón tay Chiêu Nghi khẽ co lại.
Hạ Lan Việt đưa mắt về phía nàng. “Đường tiễn giá năm nay đi qua Tĩnh Bắc. Xe nặng, e phụ khố hữu không đủ chỗ. Hạ thần đã xin đổi sang phụ khố tả, mong điện hạ khỏi chịu gió đêm.”
Một hạt châu va rất khẽ rồi rèm đứng yên.
Chiêu Nghi nói: “Phụ khố tả không dùng được.”
Nụ cười của Hạ Lan Việt vẫn còn, nhưng mắt hắn lạnh đi một tầng. “Điện hạ ở lâu trong cung, lại biết việc ngoài ngàn dặm?”
“Giếng tả khố đã cạn từ Thừa Đức mười. Đoàn xe sáu mươi chiếc không thể nghỉ ở đó.” Giọng Chiêu Nghi đều, không giống một câu đoán. “Nếu sứ quân thật sự lo cho đường đi, nên giữ tuyến Nam Quan như bản trình cũ.”
Tạ Uyển nhìn qua lớp rèm. Con số ấy chỉ xuất hiện trong sổ nghênh sứ cũ nàng vừa mở, không có trong trình tuyến năm nay, càng không phải điều một công chúa bị khóa ở Vĩnh Ninh có thể nghe từ lời đồn. Hạ Lan Việt đã cố ý nói sai tả và hữu. Hắn không hỏi đường. Hắn đang thử xem Chiêu Nghi biết đến đâu.
“Điện hạ quả nhiên nhớ rất kỹ.” Hạ Lan Việt nhấc chiếc khóa thành. “Vậy xin chọn khóa này. Một chuyến giá mở được cửa thành, mới không phụ tình nghĩa hai nước.”
Tạ Uyển ép móng tay vào lòng bàn tay. “Khóa có hình thành thuộc vật tượng trưng cương giới. Khi quốc thư chưa đối xong, không được đưa vào xe giá.”
Nàng viết ngay vào thẻ lễ: “Khóa thành chưa nhập phụ mục, tạm niêm tại Vĩnh Ninh, chờ Lễ bộ và Nội Lễ đồng kiểm.” Sau đó nàng đặt dấu Nội Lễ lên mép giấy, buộc dây qua khay. Hạ Lan Việt không ngăn. Hắn đã đạt được điều muốn biết: Chiêu Nghi nhận ra Tĩnh Bắc và hai phụ khố, còn Tạ Uyển phản ứng đủ nhanh để che nó bằng quy chế.
Trước khi rời điện, hắn quay lại. “Vật quý đều có giá. Có khi một thành đổi được ba năm yên, vẫn là món lời.”
Chiêu Nghi đáp sau rèm: “Người định giá không sống dưới chân thành, đương nhiên thấy lời.”
Đến khi tiếng giày sứ đoàn khuất khỏi sân, Tạ Uyển vẫn đứng bên án, tay đặt trên nút niêm vừa buộc. Nàng đáng lẽ phải hỏi về chiếc khóa, về đường thêu, về sổ cũ đã lọt vào tay ai. Nhưng câu đầu tiên ra khỏi miệng lại thấp hơn tất cả những câu ấy.
“Điện hạ biết Tĩnh Bắc từ khi nào?”
A Nhiễm khẽ động, như muốn lui mọi người ra. Chiêu Nghi không cho. Nàng tự tay vén một đoạn rèm châu. Gương mặt sau màn ngọc nhợt vì nhiều đêm không ngủ, nhưng ánh mắt không tránh Tạ Uyển.
“Trước khi cô vào Vĩnh Ninh,” nàng nói.
Tạ Uyển không chớp mắt.
Chiêu Nghi đặt tay lên chiếc trâm ngọc bên tóc, từng chữ rơi xuống giữa hai người, không còn chỗ cho một lời hiểu lầm dễ chịu nào nữa.
“Trước cả ngày ta xin nhận chiếu hòa thân.”
