Chương 43 - Chương 43: Quốc Thư Hai Bản
Chương 43: Quốc Thư Hai Bản
Ánh đèn lướt qua bốn chữ son rồi dừng ở mép lụa vàng. Mực không đỏ đều. Chữ “phó” đậm hơn ba chữ còn lại, như được viết sau khi mặt lụa đã khô một lượt. Ngoài hành lang, tiếng tranh luận của Mạnh cô cô vẫn bị cánh cửa khố chặn lại, chỉ còn những âm nặng, đứt quãng. Tạ Uyển đặt hai ngón tay lên đầu cuộn thư, không mở thêm ngay.
“Còn bao lâu?” nàng hỏi.
Phó Cẩn nghiêng tai về phía cửa. “Không quá nửa khắc.”
“Vậy không đọc từ đầu đến cuối.” Tạ Uyển rút thước gỗ khỏi hộp dụng cụ, đặt song song với mép cuộn lụa. “Chỉ đối niêm, số hàng và những chỗ không trùng.”
Nàng tháo nút dây đen thêm một vòng. Bọc lụa vàng không chỉ quấn một cuộn. Bên dưới bản vừa lộ tiêu đề còn có một lớp lụa khác, mỏng hơn, cuộn ngược chiều. Hai đầu trục gỗ cùng một cỡ, cùng khắc số “Thừa Đức mười sáu”, nhưng vết mực trên một đầu đã ăn sâu vào thớ, đầu kia lại còn bóng. Tạ Uyển nhìn chúng một lượt, cảm giác lạnh từ đầu ngón tay chậm rãi lan lên cổ tay.
Hai bản không phải bản chính và bản sao theo thông lệ. Một quốc thư được sao lưu hợp lệ phải ghi số mục khác nhau, người chép khác nhau và có dấu đối chiếu ở cuối. Hai cuộn trước mắt lại cùng số mục, cùng ngày đóng, cùng tên người duyệt. Chỉ riêng việc chúng tồn tại cạnh nhau đã đủ chứng minh có một bản không được phép xuất hiện.
Phó Cẩn giữ đèn thấp hơn. “Mở cả hai?”
“Mở đến chỗ đầu tiên khác nhau.”
Tạ Uyển trải hai cuộn lên mặt trong của nắp hòm. Nàng không để lụa chạm nền gỗ, dùng hai tấm vải xám bọc đồng lót dưới mép. Hàng chữ đầu giống hệt: quốc hiệu Đại Lương, quốc hiệu Bắc Yên, lời hỏi thăm theo lệ bang giao, ngày định lễ xuất giá. Đến dòng thứ sáu, vẫn là câu đình chiến ba năm. Dòng thứ bảy nói mở lại hai cửa dịch. Dòng thứ tám, một bản viết “cương giới giữ theo mốc cũ”, bản kia lại dùng “cương giới theo phụ nghị định lại”. Chỉ đổi bốn chữ, ý đã khác hẳn.
Tạ Uyển không dừng ở câu ấy. Nàng nhìn phần ấn son dưới nếp nối giữa hai đoạn lụa. Theo phép quốc thư, dấu Lễ bộ ở phó bản phải đóng đè lên đường ghép, nửa trên nửa dưới bằng nhau, để không ai có thể thay một đoạn mà giữ nguyên phần còn lại. Ở bản thứ nhất, vết mẻ nhỏ dưới nét “Lễ” nằm đúng phía mép trái, dấu son ăn qua đường ghép vừa đủ. Ở bản thứ hai, cùng một vết mẻ ấy lại lệch xuống ba phân; nửa trên chỉ dính một vệt đỏ mỏng, còn phần dưới nhận gần trọn mặt dấu.
“Ấn là thật,” Phó Cẩn nói.
“Mặt ấn thật.” Tạ Uyển đáp, mắt vẫn đặt trên đường ghép. “Nhưng đoạn lụa có thể đã bị đổi sau khi đóng.”
Nàng dùng kim gảy nút nhấc nhẹ sợi chỉ nối. Chỉ không đứt, song nút ở mặt sau được thắt theo lối buộc hàng hòm, không phải nút văn thư của Lễ bộ. Người thay đoạn lụa rất hiểu con dấu, nhưng không phải người chép quốc thư. Hoặc người ấy tin rằng không ai được phép mở hòm để nhìn kỹ đến mức này.
Tiếng chân ngoài hành lang bỗng dồn gần. Một giọng nam nói lớn rằng đã lấy được mặt ấn cũ từ tiền sảnh. Mạnh cô cô đáp câu gì đó, lạnh và chậm, rồi yêu cầu mở sổ tu bổ trước khi cho qua. Tạ Uyển biết bà chỉ còn kéo được vài hơi thở.
Phó Cẩn đưa tay về phía một cuộn. “Mang bản lệch đi. Không có vật trong tay, lời chúng ta không đủ.”
Tạ Uyển chặn cổ tay hắn. “Thiếu một bản, họ sẽ biết ngay đêm nay có người mở ngăn giả. Trước khi chúng ta kịp trình lên đâu, Tạ Hành sẽ thành kẻ trộm thư, ngài sẽ thành kẻ phản lệnh, còn Mạnh cô cô là người ký phiếu cho ta vào khố.”
“Để nguyên thì sáng mai chúng có thể bị đốt.”
“Cho nên phải lấy thứ chúng không biết đã để lại.”
Nàng rút hai thẻ niêm trắng. Một thẻ phủ lên dấu son của bản thứ nhất, một thẻ phủ lên dấu bản thứ hai. Thỏi than mềm chạy qua mặt giấy, hiện rõ cùng một vết mẻ nhưng hai vị trí khác nhau trên đường ghép. Sau đó nàng đặt hai thẻ chồng lên nhau, dùng kim châm qua bốn góc của dòng thứ tám và những dòng có độ dài lệch. Tách giấy ra, các lỗ kim tạo thành hai hàng không trùng. Không phải bản chép nội dung, nhưng đủ chứng minh hai văn bản cùng số mục không cùng khuôn chữ.
“Ngài nhìn dòng cuối phần phụ nghị.” Tạ Uyển nói. “Chỉ đọc những chữ khác.”
Phó Cẩn nghiêng đèn. Ánh lửa run trên lụa. Hắn đọc rất chậm, như mỗi chữ đều phải đi qua một cánh cửa khác trong lòng: “Tĩnh Bắc… cùng hai phụ khố… kể từ ngày công chúa xuất giá…”
Bên ngoài có tiếng then cửa bị đẩy thử. Tạ Uyển cuộn hai bản lại ngay, nhưng trước khi lớp lụa khép kín, mắt nàng kịp lướt qua bốn chữ ở cuối hàng: “giao Bắc Yên lĩnh”. Nàng không có thời gian đọc chữ nhỏ chen bên cạnh, không biết đó là giao vĩnh viễn hay mượn danh “tạm lĩnh”. Chỉ biết bản còn lại hoàn toàn không có đoạn ấy.
Nàng buộc lại dây đen theo đúng thứ tự đã tháo, đặt bọc lụa về ngăn giả, hạ tấm đáy xuống và ép đầu đinh đồng sáng hơn trở lại rãnh. Bốn tấm đồng được xếp đúng vị trí cũ, hai cuộn lụa đỏ phủ lên trên. Phó Cẩn đóng nắp hòm vừa lúc tiếng Mạnh cô cô vang sát cửa: “Tạ nữ quan, mặt ấn đã đối xong.”
Thanh ngang bằng đồng rơi vào chỗ cũ. Tạ Uyển lùi một bước, giữ hộp dụng cụ trước người. Phó Cẩn đưa tay kéo thẳng nếp giáp tay, nhưng hơi thở hắn nặng hơn khi mới vào khố.
Cửa mở. Khố lại dẫn thợ khóa trở lại, lần này trong hộp gỗ là mặt ấn có chỗ mẻ đúng như bản dập cũ. Hắn nhìn hòm trước, rồi nhìn Tạ Uyển. “Trong lúc chúng ta đi, có ai động vào không?”
“Khóa cũ đã được các ngươi tháo, hòm do ta và Phó thống lĩnh cùng giữ.” Tạ Uyển đặt phiếu đồng kiểm lên án. “Không có người thứ ba vào gian trong. Câu này ta sẽ ghi nguyên vào biên bản.”
Khố lại không nhận được một lời phủ định như hắn muốn. Ánh mắt hắn dừng trên thanh ngang, song không thể yêu cầu khám xét Tạ Uyển mà không thừa nhận việc chính hắn đã để một hòm quốc lễ mất khóa trong lúc mang ấn sai rời đi. Mạnh cô cô đứng sau vai hắn, tay giữ sổ ra vào. Bà không hỏi điều gì, chỉ nói: “Đóng khóa. Quá canh giờ chuyển kho rồi.”
Khóa mới được lắp. Tạ Uyển buộc thêm niêm đối kiểm của Nội Lễ bên cạnh niêm Lễ bộ, buộc hai đầu dây thành nút kép để bất cứ lần cắt nào sau đó cũng phải phá cả hai dấu. Nàng ghi số khóa mới, giờ đóng, tên người giữ cửa và lý do chậm chuyển. Ở dòng cuối, nàng thêm một câu: “Mặt ấn lần đầu không khớp dấu lưu, đã trả đối chiếu.” Khố lại nhìn câu ấy rất lâu mới chịu ký.
Trước khi rời tây khố, Phó Cẩn trở lại bàn trực. Nét mực kéo dài cạnh tên hắn vẫn còn đó. Hắn viết thêm giờ khóa cũ bị tháo và giờ khóa mới được đóng, rồi đặt một dấu tay nhỏ bên dưới. Tạ Uyển không nhắc hắn làm. Chính vì vậy, nàng mới cho phép mình tin thêm một phần rất nhỏ.
Ra khỏi hành lang, gió bắc quất vào mặt khiến mùi sáp niêm trên tay áo nhạt đi. Mạnh cô cô dẫn nàng vòng qua mái hiên tối, đến chỗ không có người trực mới dừng lại. Tạ Uyển lấy hai thẻ dập khỏi lớp lót hộp, giao một thẻ cho bà, giữ một thẻ trong tay áo. Bà nhìn hai hàng lỗ kim lệch nhau, sắc mặt không đổi, nhưng ngón tay siết mép giấy đến trắng.
“Hai bản?” bà hỏi.
“Cùng số mục, cùng ngày, cùng mặt ấn. Câu chữ khác nhau.”
“Bản nào sẽ được đưa sang Bắc Yên?”
Tạ Uyển nhìn về phía Vĩnh Ninh. Tường cung trong đêm chỉ là một dải đen dài, không có lấy một ngọn đèn lọt qua. “Đó mới là điều họ giấu trong hòm. Không phải bản nào thật, mà là bản nào sẽ được đổi vào đúng lúc không có tên người.”
Nàng chạm đầu ngón tay lên bốn lỗ kim đánh dấu dòng phụ nghị. Trên chiếc khăn A Nhiễm gửi ra, ô vuông lệch từng nằm cạnh ký hiệu Tĩnh Bắc và hai phụ khố. Khi ấy nàng tưởng đó là vị trí cất bản đồ. Bây giờ, những chữ vừa nhìn thấy đã đổi hẳn ý nghĩa của đường thêu.
Quốc thư thứ nhất nói hai nước giữ nguyên cương giới.
Quốc thư thứ hai dùng ngày Chiêu Nghi xuất giá làm mốc, đem Tĩnh Bắc trấn cùng hai phụ khố giao cho Bắc Yên lĩnh giữ.
