Chương 42 - Chương 42: Đêm Mở Hòm
Chương 42: Đêm Mở Hòm
“Cơ hội không phải là một lần tin mù quáng.” Tạ Uyển nói.
Phong bệnh án vẫn nằm giữa hai người, phần giấy có dấu Diệp Thanh hướng về phía nàng. Ánh sáng sớm đã rõ hơn, nhưng trong phòng trực mở cửa, sắc son trên mép giấy vẫn đỏ như chưa khô. Phó Cẩn không rút tay lại. Hắn chờ, lưng thẳng, vẻ mặt của một người đã quen đứng trước cửa người khác, lần đầu tiên phải đứng trước chính lựa chọn của mình.
“Ta cho ngài cơ hội,” Tạ Uyển nói tiếp, “nhưng đường đi không do ngài định, giờ mở hòm không được lệch, và nếu có người đổi lệnh giữa chừng, ngài phải để lại dấu.”
“Dấu gì?”
“Thứ không thể bị xóa cùng một trang sổ.”
Phó Cẩn nhìn nàng. Tạ Uyển không giải thích thêm. Nàng đẩy phong bệnh án trở lại trước mặt hắn. “Ngài giữ lấy. Trưa nay, giao một viên Tuyết sâm hoàn chưa dùng cho người của Diệp y quan. Không ghi tên Phó Nhạn ở phiếu đầu. Chỉ đối dược trước.”
Hắn khựng lại rất khẽ. Có lẽ hắn đã nghĩ nàng sẽ giữ bệnh án làm vật bảo chứng. Có lẽ chính hắn, nếu đứng ở vị trí nàng, cũng chưa chắc trả lại một thứ có thể bóp nghẹt người khác dễ dàng đến vậy.
“Cô không sợ ta mang nó đi rồi đổi ý?”
“Tờ giấy ấy là mạng em gái ngài, không phải dây buộc cổ ngài trong tay ta.” Tạ Uyển đặt ngón tay lên bản hồi phiếu của Tạ Hành. “Ta chỉ cần biết tối nay ngài chọn đứng ở phía nào của cánh cửa.”
Phó Cẩn gấp bệnh án vào áo. Lần này, nếp gấp ngay ngắn nhưng không còn che dấu Diệp Thanh ở ngoài cùng. Hắn đọc lại nguyên văn lệnh đã nhận: canh hai đến tây khố Lễ bộ; giữ cửa cho đến khi người thay khóa tới; lúc cắt niêm phải rời khỏi hành lang trong; không ghi tên người vào sổ chuyển; sau khi thay khóa, hòm được đưa sang kho tùy giá trước canh ba.
Tạ Uyển nghe hết, chỉ hỏi một câu: “Ai truyền?”
“Một nội lại tên Trần Túc, mang thẻ của phòng Tưởng thị lang. Hắn không trao giấy cho ta, chỉ cho xem rồi thu lại.”
“Dấu thẻ?”
“Góc phải sứt một đường, dây đeo màu đen.”
Nàng ghi nhớ. “Tối nay, nếu Trần Túc không xuất hiện mà người khác dùng lời hắn, ngài không được coi đó là cùng một lệnh.”
Phó Cẩn gật đầu. Trước khi rời phòng trực, hắn nói: “Nếu trong hòm không có gì thì sao?”
“Thì vẫn có một khoảng canh giờ bị cố ý bỏ trắng.” Tạ Uyển nhìn ra hành lang đã sáng. “Khoảng trắng cũng là vật chứng, nếu có người chịu ghi nó.”
Đến giờ Ngọ, Kinh Triệu phủ không trả Tạ Hành về.
Hồi phiếu thứ hai chỉ có bốn dòng, nói việc đối chiếu thư tích chưa xong, xin giữ người biết việc đến sáng hôm sau. Không thêm tội danh, không đổi tư cách, nhưng cũng không nói bức thư nào đang được dùng để so nét. Tạ Uyển buộc viên thư lại đóng thêm dấu giờ nhận và ghi rõ việc kéo dài là do Lưu chủ sự đề nghị. Khi mực khô, nàng gấp bản sao bỏ vào tay áo. Nỗi lo không nhẹ đi; nó chỉ có thêm hình dạng, thêm con dấu, thêm một cái tên để nàng không thể giả vờ rằng em trai mình vẫn ở ngoài ván cờ.
Mạnh cô cô đọc phiếu kiểm niêm nàng trình vào cuối giờ Mùi, lâu đến mức giọt trà trên nắp chén nguội hẳn.
“Hòm không tên, nhưng nằm trong danh sách tùy giá của công chúa,” bà nói. “Ngươi xin đối chiếu khóa, niêm và trọng số trước khi chuyển kho. Lý do đủ đúng.”
“Đủ đúng chưa chắc đủ an toàn.”
“Ngươi còn biết câu ấy thì chưa đến nỗi mất trí.” Mạnh cô cô đặt bút xuống, ký vào hai bản phiếu. Một bản được niêm trong sổ Nội Lễ, bản còn lại giao Tạ Uyển mang theo. “Ta giữ cửa ngoài tây khố. Quá một khắc mà ngươi không ra, ta sẽ cho người khóa hành lang, lấy cớ thiếu chữ ký chuyển kho.”
Tạ Uyển nhìn bà. “Cô cô không cần vào trong.”
“Ta không định vào.” Mạnh cô cô lạnh nhạt đáp. “Ta chỉ không để ngươi chết trong một khoảng thời gian không có tên người.”
Canh hai, gió bắc quét qua mái tây khố, kéo tiếng phong linh đồng thành những âm ngắn lạnh buốt. Tạ Uyển đến bằng cửa phụ, mặc quan phục xanh xám, trong tay chỉ có hộp dụng cụ kiểm lễ: thước gỗ, giấy phủ son, kim gảy nút và hai thẻ niêm trắng. Không có thứ nào là vũ khí. Trong cung, thứ nàng dùng để tự giữ mạng vốn chưa từng là lưỡi thép.
Phó Cẩn đứng trước cửa khố. Hắn đã cài kín giáp tay. Bên cạnh tên hắn trong sổ trực có một nét mực nhỏ kéo dài xuống dưới, tưởng như do đầu bút trượt. Tạ Uyển nhìn thấy nhưng không hỏi. Đó là dấu hắn để lại: ca trực này có điều khác thường.
Hòm gỗ không tên nằm ở gian trong cùng, tách khỏi những hòm lụa, ngọc và đồ tế khí đã ghi rõ số mục. Thân hòm bằng gỗ sam sẫm màu, hai đai đồng chạy ngang, khóa cũ mang số “Tây mười bảy”. Lớp sáp niêm trên dây khóa có dấu Lễ bộ, nhưng ở mép dưới còn một đường mỏng như từng bị lưỡi dao lách qua rồi hơ nóng vá lại.
Tạ Uyển phủ giấy lên mặt niêm, lấy thỏi than mềm miết nhẹ. Vết dấu hiện ra từng nét. Nàng cất bản dập vào tay áo, rồi đo chiều cao, chiều rộng và khoảng cách giữa hai đai đồng. Phó Cẩn nhìn động tác của nàng, thấp giọng: “Cô đã biết niêm bị động?”
“Ta biết có người muốn ngày mai không ai chứng minh được nó từng bị động.”
Tiếng chân đến từ hành lang ngoài. Một khố lại Lễ bộ dẫn theo thợ khóa và hai phu khuân hòm. Người đi đầu cầm thẻ phòng thị lang, nhưng không phải Trần Túc. Hắn chỉ cúi chào lấy lệ rồi nói: “Phụng lệnh thay khóa. Phó thống lĩnh đưa người rời khỏi hành lang trong.”
Phó Cẩn hỏi: “Tên người nhận việc?”
“Lệnh miễn ghi.”
“Người truyền?”
“Phòng thị lang.”
“Ta hỏi tên.”
Khố lại ngẩng lên, ánh mắt bắt đầu khó chịu. “Phó thống lĩnh trước nay không hỏi nhiều như vậy.”
“Trước nay lệnh không bảo ta rời cửa đúng lúc hòm mở.”
Không khí trong khố chùng xuống. Tạ Uyển từ phía sau hòm bước ra, đặt phiếu kiểm niêm lên án nhỏ cạnh cửa. “Nội Lễ đối kiểm trước chuyển kho. Cứ theo việc mà làm.”
Khố lại nhìn dấu của Mạnh cô cô, sắc mặt đổi nhẹ. “Đây là việc Lễ bộ.”
“Đây là đồ tùy giá của Chiêu Nghi điện hạ. Khóa do Lễ bộ giữ, danh mục do Nội Lễ chịu. Một bên thiếu chữ thì hòm không được qua cửa kho.”
Hắn không thể bác mà không tự thừa nhận mình muốn đẩy hòm đi ngoài quy chế. Cuối cùng, hắn ra hiệu cho thợ khóa. Khóa cũ được mở, dây niêm bị cắt. Tiếng kim loại rời khỏi vòng đồng vang lên khô và nặng. Phu khuân đặt khóa mới lên án, còn khố lại lấy từ hộp gỗ một mặt ấn đồng để chuẩn bị đóng niêm mới.
Tạ Uyển đưa tay. “Cho ta đối mặt ấn.”
“Ấn của Lễ bộ, Tạ nữ quan không có quyền giữ.”
“Ta không giữ. Ta chỉ đối.”
Nàng phủ giấy mỏng lên mặt đồng, ấn nhẹ bằng đầu ngón tay. Chữ triện hiện ngược dưới ánh đèn. Ở góc dưới chữ “Lễ”, nét móc tròn trịa, liền lạc.
Tạ Uyển nhìn sang bản dập niêm cũ. Trên dấu thật, nét ấy khuyết một chấm nhỏ do mặt ấn đã mẻ từ nhiều năm. Nàng từng chép hàng trăm phiếu chuyển đồ, không thể nhầm một khuyết điểm mà các thư lại vẫn phải tránh khi phủ son.
“Ấn này chưa được vào sổ tu bổ,” nàng nói.
Khố lại cứng mặt. “Mặt ấn mới thay.”
“Thay ngày nào, ai lĩnh đồng, ai hủy mặt cũ?”
“Việc cơ mật, không cần báo Nội Lễ.”
“Vậy niêm mới không đủ căn cứ.” Tạ Uyển đặt hai bản giấy cạnh nhau. “Theo lệ đồng kiểm, khi mặt ấn khác dấu lưu mà không có phiếu tu bổ, việc chuyển phải dừng. Mang ấn này về tiền sảnh đối chiếu. Khi có mặt ấn đúng, mới được đóng khóa.”
Thợ khóa đã tháo khóa cũ. Hòm lúc này chỉ còn thanh ngang giữ nắp. Khố lại nhìn nó, rồi nhìn Phó Cẩn. “Không ai được chạm vào trước khi chúng ta trở lại.”
Tạ Uyển đáp: “Ta sẽ ghi nguyên câu ấy.”
Chính việc nàng bình thản nhận lời khiến hắn không tìm được cớ ở lại. Hắn thu mặt ấn giả vào hộp, dẫn thợ khóa và phu khuân ra ngoài. Ở cuối hành lang, giọng Mạnh cô cô vang lên, yêu cầu từng người ghi tên vào sổ vì việc chuyển đã phát sinh sai lệch. Tiếng cãi vã bị chặn ngoài cánh cửa dày.
Trong gian khố chỉ còn một ngọn đèn và tiếng gió luồn qua song cửa.
Phó Cẩn bước tới bên hòm. “Họ sẽ quay lại rất nhanh.”
“Một khắc.”
“Có thể ngắn hơn.”
Tạ Uyển đặt thước gỗ lên nắp. “Ngài vẫn có thể ra ngoài, nói ta tự ý mở.”
Phó Cẩn nhìn nét mực nhỏ trên sổ trực đặt gần cửa. “Nếu ta ra, ngày mai nét ấy sẽ bị chép thành vết bút trượt.”
Hắn nắm lấy thanh ngang bằng đồng. Bàn tay siết chặt một lần rồi nhấc lên. Tiếng bản lề rền thấp. Nắp hòm mở ra, mùi gỗ sam cũ trộn với mùi sáp niêm nóng dở.
Lớp trên cùng không phải lụa cưới hay châu ngọc. Bốn tấm đồng mỏng được bọc vải xám xếp sát nhau, đủ để làm hòm nặng và tạo tiếng kim loại khi bị lay. Dưới chúng mới là hai cuộn lụa đỏ, nhưng số lượng quá ít so với chiều sâu bên ngoài.
Tạ Uyển đo từ miệng hòm xuống đáy. Thước dừng sớm hơn ba tấc.
“Có ngăn giả,” nàng nói.
Phó Cẩn giữ đèn thấp. Tạ Uyển gỡ lớp lụa, tìm thấy bốn đầu đinh đồng chìm dưới nẹp gỗ. Một đầu sáng hơn ba đầu còn lại, như mới được tháo lắp. Nàng dùng kim gảy nút lách vào khe, nâng tấm đáy lên từng chút. Bên ngoài, tiếng người đã dồn gần hơn. Mạnh cô cô chỉ có thể giữ họ bằng quy chế, không thể giữ quá lâu.
Tấm gỗ bật khỏi rãnh.
Bên dưới là một bọc lụa vàng, mỏng, dài, buộc bằng dây đen. Trên dây không có ngọc ấn hoàng gia, chỉ có dấu lưu của Lễ bộ. Tạ Uyển tháo nút đầu tiên, mở vừa đủ một góc. Phó Cẩn nghiêng đèn, ánh lửa lướt qua hàng chữ mực đen ngay ngắn.
Ở đầu cuộn lụa là quốc hiệu Đại Lương và Bắc Yên. Bên dưới, bốn chữ nhỏ được viết bằng mực son:
“Quốc thư phó bản.”
Tạ Uyển không thở ra.
Trong một hòm lễ không tên, giữa khoảng canh giờ không ghi người, họ đã tìm thấy một bản sao quốc thư không được phép nằm ở đó.
