Bỏ qua nội dung

Chieu Hoa Than

Chương 39 - Chương 39: Khăn Thêu Biên Trấn

Chương 39: Khăn Thêu Biên Trấn

Ngọn đèn trên án nghiêng lửa về phía chiếc khăn, làm năm mũi chỉ xanh xám nổi lên như những vết rạn mảnh trên nền tuyết.

Tạ Uyển không tháo đường viền. Nàng đặt một tờ giấy dó mỏng lên mặt khăn, dùng cán kim đã cùn miết nhẹ theo từng đoạn chỉ rồi chấm lại vị trí hai nút ở mặt trái. Chiếc khăn còn hơi ẩm, nếu kéo mạnh một mũi, dấu vết có thể biến thành lỗi giặt rách; nếu để nguyên đến sáng, người của Lễ bộ chắc chắn sẽ quay lại với một tờ phiếu đủ chữ ký.

Trên giấy hiện ra hai hình tam giác không đều nhau, một đường cong đi từ dưới lên rồi bẻ về phía đông, cuối cùng dừng ở một ô vuông đặt lệch. Khi chỉ nhìn riêng, chúng giống những mũi thêu vụng. Đặt cạnh dấu mực in ngược trên mảnh giấy cầu an, khoảng cách giữa bốn dấu lại khớp đến mức không thể là ngẫu nhiên.

Mạnh cô cô đứng bên kia án, không giục. Bà chỉ khép cửa sổ thêm một khe, để gió đêm không làm rung đèn.

“Cô nhìn ra gì?”

“Không phải chữ.” Tạ Uyển đưa tờ giấy lên ngang mắt. “Là lộ đồ đã bỏ tên.”

Nàng mở bản trích yếu quân báo. Nét sửa bằng mực xanh xám nằm ở một dòng ghi việc thay người vận chuyển quân lương phía bắc. Chữ cũ đã bị cạo, chỉ còn một nửa bộ khẩu và nét móc dài. Năm mũi chỉ trên khăn không cho biết địa danh, nhưng màu chỉ và cách giấu đầu chỉ cho thấy người trong Vĩnh Ninh muốn nàng đặt hai vật cạnh nhau.

Chiêu Nghi không gửi một lời cầu cứu. Nàng gửi thứ có thể khiến cánh cửa đang khóa mình trở nên vô nghĩa.

Ý nghĩ ấy đi qua rất nhanh, nhưng bàn tay Tạ Uyển vẫn dừng trên mép khăn lâu hơn một nhịp. Nàng không biết mũi thêu do ai đặt xuống, chỉ biết A Nhiễm đã liều đưa nó ra. Nếu Chiêu Nghi còn được giữ kim, đây có thể là nét nàng đã nhìn thấy trong một văn thư khác. Nếu nàng đã bị tách khỏi cung nhân, chiếc khăn lại là phần việc cuối cùng hai người kịp hoàn thành trước khi cửa đóng.

“Trong kho Nội Lễ có sổ đường tiễn giá cũ không?” Tạ Uyển hỏi.

Mạnh cô cô nhìn nàng. “Có. Nhưng đó là sổ đối chiếu lộ trình của những đoàn nghi giá đi qua biên cảnh, không phải bản đồ quân cơ.”

“Chính vì không phải quân cơ nên Lễ bộ khó cấm Nội Lễ xem.”

Bà im lặng một lúc rồi lấy chùm chìa khóa trong tay áo. “Cô chỉ được mượn theo mục chuẩn bị lộ trình hòa thân. Phải ghi giờ mở kho, tên người lấy và số quyển.”

Tạ Uyển tự tay ghi đủ ba mục.

Kho sổ đêm lạnh hơn phòng trực. Những quyển lộ trình cũ được buộc bằng dây gai, ngoài bìa ghi năm, tên cửa thành và lý do đoàn nghi giá ra khỏi kinh. Tạ Uyển không tìm bản gần nhất. Nàng tìm những quyển có niên đại trước khi cha bị giáng chức, bởi thư cha gửi về năm ấy từng nhắc một câu rất ngắn: đường phía bắc không mất ở cửa quan, mà mất giữa hai lần đổi ngựa.

Khi còn nhỏ, nàng chỉ hiểu đó là lời than của một người làm việc xa nhà. Đến đêm nay, hai hình tam giác trên khăn khiến câu ấy có hình.

Trong sổ lộ trình, tam giác không chỉ dịch trạm. Tam giác đầu nhọn lên là trạm đổi ngựa của quan lộ; đầu nhọn chếch sang đông là trạm dành cho nghi giá và sứ đoàn, nơi vật phẩm được kiểm niêm trước khi qua vùng quân quản. Đường cong là thủy đạo. Ô vuông ngay ngắn là thành trấn, còn ô vuông đặt lệch chỉ phụ khố nằm ngoài thành, dùng tạm khi đoàn xe quá dài không thể nhập kho chính.

Tạ Uyển mở từng quyển, dùng tờ giấy chép mẫu đặt lên các trang lộ đồ. Quyển thứ nhất không khớp. Quyển thứ hai có hai trạm nhưng thủy đạo nằm phía tây. Đến quyển thứ tư, đường cong của Kỳ Hà đi qua giữa hai dịch trạm, sau đó uốn về một phụ khố ngoài Tĩnh Bắc trấn.

Năm mũi chỉ trên khăn nằm đúng trên tuyến ấy.

Mạnh cô cô cúi xuống nhìn. “Tĩnh Bắc?”

Tạ Uyển không đáp ngay. Tên trấn ấy từng xuất hiện trong lời mẫu thân kể về những tháng cuối cha còn giữ chức. Ông rời kinh để tra việc thất thoát quân lương, ở Tĩnh Bắc chưa đầy một mùa rồi bị gọi về. Sau đó bản tấu của ông biến mất, tội danh lại trở thành vượt quyền xem quân cơ. Tạ gia từ đó không ai nhắc Tĩnh Bắc nữa, như thể chỉ cần không gọi tên, nơi ấy sẽ không còn nối với tai họa năm xưa.

Nàng lật sang trang ghi chú bên cạnh. Tuyến nghi giá qua Tĩnh Bắc đã bị đình từ sáu năm trước với lý do cầu gỗ trên Kỳ Hà hư hại. Nhưng ở sổ năm sau, đoàn cống vật Bắc Yên vẫn dùng một trong hai dịch trạm. Dòng xác nhận nhập phụ khố có ba lần đổi niêm trong cùng một đêm, người giao và người nhận đều chỉ đóng chức ấn, không ghi tên.

“Cha cô đi Tĩnh Bắc đúng năm này?” Mạnh cô cô hỏi.

“Đúng.”

“Vậy chiếc khăn đã chỉ ra nơi ông từng tra.”

“Chỉ ra một tuyến.” Tạ Uyển đặt tờ giấy chép lên trang sổ. “Chưa chỉ ra phụ khố nào.”

Bên ngoài Tĩnh Bắc có hai kho tạm, một ở bờ nam Kỳ Hà, một ở sát đường sang Bắc Yên. Lộ đồ nghi giá chỉ vẽ chung một ký hiệu vì hai kho không bao giờ được dùng cùng lúc. Muốn biết ô vuông lệch trên khăn là kho nào, cần thêm một dấu cầu, cột phong hỏa hoặc hướng cửa trấn. Chiếc khăn không có dấu thứ sáu.

Mảnh ghép quan trọng nhất vẫn nằm sau cửa Vĩnh Ninh.

Tiếng gõ ngoài phòng trực vang lên đúng lúc ấy, ba tiếng đều, không nhanh không chậm. Mạnh cô cô khép sổ lộ trình. Tạ Uyển đặt chiếc khăn về đúng vị trí trên khay, còn tờ giấy chép mẫu được kẹp vào quyển sổ kiểm lỗi đường thêu, dưới mục vừa lập trong đêm. Không có vật nào bị giấu khỏi sổ; chỉ có ý nghĩa của chúng chưa được ghi thành lời.

Viên thư lại Lễ bộ ban nãy trở lại, lần này đi cùng một chủ sự Thượng Phục và hai nội thị. Hắn đặt phiếu hoàn lên án. Dưới lý do thu hồi ghi: vật dụng Vĩnh Ninh cung sai mẫu, cần đưa về đối chiếu. Chỗ người nhận đầu tiên và người ra lệnh đều đã có chữ ký.

“Giờ đã đủ quy trình,” hắn nói.

Tạ Uyển xem từng dấu son. “Đủ để hoàn vật, chưa đủ để xóa mục kiểm lỗi.”

“Khăn sẽ được mang về, mục ấy giữ hay xóa có gì khác?”

“Khác ở chỗ ngày mai có người hỏi vì sao một món đồ đã nhập giặt lại bị lấy ra giữa canh hai.” Nàng xoay sổ về phía chủ sự Thượng Phục. “Xin xác nhận hiện trạng trước khi nhận: khăn trắng, viền mới khâu, có năm mũi chỉ xanh xám không thuộc mẫu Vĩnh Ninh.”

Viên thư lại nhìn thẳng vào nàng. “Tạ chưởng lễ đã xem rất kỹ.”

“Người chịu trách nhiệm ghi sổ mà không xem kỹ mới là thất lễ.”

Hắn không thể phản bác trước mặt người Thượng Phục. Nếu chỉ ghi “khăn hỏng”, việc Lễ bộ đích thân thu hồi giữa đêm càng đáng ngờ; nếu ghi đủ năm mũi chỉ, chính tờ phiếu sẽ xác nhận chiếc khăn từng tồn tại. Sau một lúc, chủ sự Thượng Phục cầm bút viết lại hiện trạng rồi ký tên.

Viên thư lại cuộn khăn, nhưng chưa đi ngay. Ánh mắt hắn dừng ở quyển lộ trình trên án.

“Đêm đã khuya, Nội Lễ còn xem đường biên?”

“Từ hôm nay Vĩnh Ninh đổi giờ đóng cửa, nhật trình thức nghỉ và đường giao vật đều phải sửa. Hôn nghi đi qua biên trấn, ta đối chiếu sổ cũ để tránh dùng nhầm mẫu địa phương trên đồ tùy giá.” Tạ Uyển đưa phiếu mượn kho đã ghi đủ giờ và số quyển. “Ngài muốn xem căn cứ lấy sổ chăng?”

Hắn nhìn phiếu, rồi nhìn Mạnh cô cô đang đứng làm chứng. Cuối cùng, hắn không chạm vào quyển sổ. “Không cần. Chỉ mong Tạ chưởng lễ nhớ rằng có những đường không thuộc phạm vi Nội Lễ.”

“Đường nào đưa nghi giá đi qua, Nội Lễ phải biết đoàn người sẽ dừng ở đâu.”

Lời ấy đúng chức phận đến mức không thể bắt tội, nhưng cũng không còn là lời của một người chỉ muốn giữ mình bình an. Viên thư lại hiểu, sắc mặt lạnh đi. Hắn ôm khăn rời khỏi phòng, hai nội thị theo sau. Tiếng chân mất dần ngoài hành lang, để lại mùi giấy niêm mới và khoảng trống trắng trên chiếc khay.

Mạnh cô cô chờ đến khi cửa cài then mới nói: “Họ biết cô đã tìm thấy gì đó.”

“Nếu họ biết ký hiệu chỉ đâu, chiếc khăn đã không ra khỏi Vĩnh Ninh.” Tạ Uyển thu lại phiếu hoàn, ép phẳng góc giấy. “Bây giờ họ chỉ biết ta không xem nó như một chiếc khăn hỏng.”

“Như thế đã đủ để họ động đến Tạ gia.”

Tạ Uyển nhìn tên Tĩnh Bắc trên sổ. Nàng nhớ Tạ Hành đang ở ngoại xá Thanh Hà, nhớ lời dặn không được tự ý ra ngoài và vẻ bực bội nó cố giấu khi bị nàng giữ lại. Từ chiều đến giờ chưa có tin, nhưng trong kinh, im lặng thường không phải bình an. Im lặng chỉ có nghĩa người ra tay chưa muốn kẻ khác biết mình đã ra tay.

Nàng vừa định gọi người đến Thanh Hà thì ngoài sân có tiếng chạy vấp. Một tiểu đồng của ngoại xá bị giữ ở ngạch cửa, áo ngoài dính bụi, tay nắm chặt một tờ giấy cấp nhận. Nó quỳ xuống, thở chưa đều đã nói: “Tạ chưởng lễ, công tử nhà người bị mời đi đối chứng.”

“Cơ quan nào?”

“Kinh Triệu phủ. Họ nói chỉ hỏi mấy câu về hộ tịch và thư cũ của Tạ đại nhân, không đóng gông, cũng chưa lập án. Nhưng hai sai dịch đưa công tử đi, không cho người ngoại xá đi theo. Chủ quán bảo tiểu nhân lập tức đem giấy này vào cung.”

Tạ Uyển nhận tờ cấp nhận. Phần trên ghi Tạ Hành tự nguyện theo đến công đường để đối chiếu, phần dưới lại có dấu hạn chế rời khỏi nha môn trước khi hoàn tất lời hỏi. Không phải bắt giam, nhưng cũng không còn được tự do trở về.

Nàng đọc đến dòng cuối.

Ở mục sự việc liên quan, ba chữ “Tĩnh Bắc trấn” còn chưa khô mực.