Chương 31 - Chương 31: Bàn Cờ Lễ Bộ
Chương 31: Bàn Cờ Lễ Bộ
Tiếng mõ điểm giờ Thìn vừa dứt thì cánh cửa đồng của Lễ bộ mở ra. Tạ Uyển đứng dưới bậc đá, nhìn hai hàng đinh trên mặt cửa còn đọng hơi sương, trong tay chỉ cầm công văn mời và bản trích yếu đã đóng niêm của Nội Lễ. Bức thư cha nàng vẫn nằm trong hòm riêng ở Nội Lễ ty. Nàng không mang theo một chữ nào không thuộc công vụ. Trước khi đi, phiếu hồi đáp từ Vĩnh Ninh đã được đưa đến: hồ sơ về ngày mất của Thục phi đã nhận đủ, dấu cung không lệch, không kèm một lời riêng. Tạ Uyển gấp tờ phiếu ấy vào tay áo. Đó là khoảng cách cả nàng lẫn Chiêu Nghi cùng chọn để giữ cho nhau một đường sống.
Phó Cẩn theo nàng qua sân tiền đường. Hắn vẫn mặc giáp cấm quân, nhưng đến dưới mái hiên phía đông thì một thư lại Lễ bộ giơ tay ngăn lại. “Tưởng thượng thư chỉ mời Tạ chưởng lễ.” Tạ Uyển không bước tiếp. Nàng mở công văn, chỉ vào dòng cuối: hiệu đối sổ cũ và các ngày tháng liên quan Vĩnh Ninh. “Việc hiệu đối phải có người chứng kiến giao nhận. Phó thị vệ là người hộ tống được ghi trên phiếu.” Thư lại thoáng chần chừ, rồi lui vào xin lệnh. Chưa đầy một tuần trà, hắn trở ra, cúi người mời cả hai vào. Tạ Uyển biết cánh cửa đầu tiên của ván cờ không nằm ở sổ sách. Nó nằm ở việc nàng có chịu bỏ người chứng bên ngoài hay không.
Tưởng Thừa Ân chờ trong thư phòng phía sau chính sảnh. Gian phòng rộng mà ít đồ, trên tường chỉ treo lịch đại lễ các đời và một bức đồ biên cảnh đã bạc màu. Trên án thấp cạnh cửa sổ là bàn cờ gỗ tử đàn, quân đen vây quanh một khoảng trống ở giữa, quân trắng còn lại chỉ có ba viên. Tưởng không mặc triều phục, chỉ khoác áo quan màu tím sẫm, cổ tay áo phẳng đến mức không có một nếp gấp. Hắn nhìn Tạ Uyển hành lễ xong mới đặt quân đen đang cầm xuống bàn.
“Tạ chưởng lễ đến đúng khắc.”
“Công văn ghi giờ Thìn. Hạ quan không dám để Lễ bộ chờ.”
“Người biết sợ phép tắc thường sống lâu hơn.” Tưởng đưa mắt sang Phó Cẩn. “Ngươi đứng cạnh cửa, làm đúng việc đã ghi trên phiếu.”
Phó Cẩn lĩnh mệnh. Hai thư lại mang vào một hòm sổ bọc vải xanh, trước mặt mọi người kiểm dây, đọc số niêm rồi mới mở. Tưởng làm mọi thứ đúng phép, thậm chí đúng đến mức khiến người ta không tìm được lý do nghi ngờ. Chính sự chu toàn ấy mới làm Tạ Uyển thấy ngột ngạt. Hắn không sợ nàng nhìn thấy sổ. Hắn chỉ cho nàng nhìn phần hắn muốn nàng nhìn.
Cuốn chính sổ tiếp ngoại thư năm Thừa Đức thứ tư được đặt giữa án. Giấy đã vàng, mép sẫm màu vì nhiều năm hút ẩm. Trang ghi ngày mười bảy tháng tám có đủ giờ mở cửa Tuyên Đức, tên quan tiếp thư, số người Bắc Yên đi theo và ba lần kiểm niêm. Dòng cuối ghi quốc thư nhập kho trước giờ Ngọ, không một chữ nhắc tới Vĩnh Ninh. Tưởng dùng ngón tay gõ nhẹ lên hàng ngày tháng. “Lễ bộ nhận tin tang ngày mười chín. Ngày mười bảy, trong sổ nội đình chưa có báo tử. Chiếu theo hồ sơ chính thức, nghi thức tiếp thư không sai.”
Tạ Uyển đáp: “Nếu giờ chết thật là đêm mười bảy, hồ sơ chính thức đã được lập trên một ngày giả.”
“Lễ pháp không dùng điều người ta tin là thật. Lễ pháp dùng điều đã được ghi nhận.” Giọng hắn không cao, nhưng từng chữ rơi xuống như quân cờ khóa đường. “Cô là người của Nội Lễ, hẳn hiểu hơn ai hết.”
Tạ Uyển không tranh về điều hắn cố tình đẩy sang đạo lý. Nàng lật từng trang, đối chiếu số thứ tự, dấu giáp lai và vết xỏ chỉ. Trang bốn mươi sáu kết thúc ở mục lễ vật thường; trang tiếp theo mang số bốn mươi tám, bắt đầu bằng biên nhận nhập kho quốc thư. Sợi chỉ giữa hai trang mới hơn một chút, màu chưa ngả nâu như phần còn lại. Nàng dừng tay. “Trang bốn mươi bảy ở đâu?”
Một thư lại cúi đầu: “Bẩm, có lẽ là phế mục khi đóng lại sổ.”
“Phế một trang trong chính sổ phải có phiếu tiêu hủy, ghi người xé, lý do và ngày đóng lại.” Tạ Uyển nhìn sang hòm phụ. “Xin xuất phiếu ấy để hiệu đối.”
Tưởng Thừa Ân nhấc một quân trắng khỏi bàn cờ, đặt giữa hai ngón tay. “Một trang không có chữ hữu dụng, giữ hay bỏ có khác gì?”
“Khác ở chỗ ai được quyền nói nó không hữu dụng.”
Trong thư phòng im đến mức nghe rõ tiếng giấy cọ dưới đầu ngón tay nàng. Phó Cẩn đứng cạnh cửa không động, nhưng ánh mắt đã chuyển từ bàn cờ sang gáy sổ. Tưởng nhìn Tạ Uyển lâu hơn một nhịp rồi bảo thư lại tra hòm phụ. Hai người lục hết ba tập mục lục, cuối cùng quỳ xuống thưa không có phiếu tiêu hủy. Tạ Uyển không tỏ vẻ thắng. Nàng chỉ kéo tờ biên bản hiệu đối lại gần, viết thêm một dòng: “Chính sổ được xuất trình thiếu trang bốn mươi bảy; phía Lễ bộ chưa xuất trình văn thư giải thích việc tháo trang.”
Thư lại vội nói: “Tạ chưởng lễ, công văn chỉ yêu cầu đối ngày tháng.”
“Ngày tháng nằm trong sổ. Sổ thiếu trang thì kết quả hiệu đối phải ghi sổ thiếu trang.” Nàng đặt bút xuống. “Nếu bỏ dòng này, hạ quan không thể ký.”
Tưởng bật cười rất khẽ. “Phụ thân cô năm xưa cũng thích hỏi về những trang không còn trong sổ.”
Cổ tay Tạ Uyển cứng lại, nhưng đầu bút không rung. Nàng ngẩng lên. “Tưởng thượng thư đang nói đến công vụ nào?”
“Hòm vật lễ qua cửa bắc, bản kê hương của Bắc Yên, vài tờ quân báo không nên đặt cạnh nhau.” Hắn nói như nhắc chuyện của một người đã chết từ lâu. “Tạ đại nhân nhìn thấy những thứ không thuộc quyền mình, rồi tin rằng chỉ cần xếp chúng đúng thứ tự thì có thể buộc triều đình nghe theo. Kết quả cô đã biết.”
Tạ Uyển nhớ hàng chữ cuối bức thư chưa gửi, nhớ mép giấy suýt bén lửa trong tay mình. Nàng không hỏi Tưởng có giữ bản đối chiếu của cha hay không. Câu hỏi ấy sẽ nói cho hắn biết nàng đã đọc đến đâu.
Tưởng mở ngăn kéo, lấy ra một tờ giấy cũ đặt cạnh bàn cờ. Đó là bản sao lời nhận sai mang tên phụ thân nàng, cuối trang có dấu tay mờ. “Ông ấy đã tự nhận dùng sai chức quyền, tự tiện sao quân báo và làm rối đường vật lễ. Một người biết dừng đúng lúc đã giữ được vợ con sống yên đến hôm nay.”
Tạ Uyển nhìn dấu tay, không chạm vào giấy. “Nếu lời nhận sai đã đủ khép án, vì sao Tưởng thượng thư còn giữ bản sao trong ngăn riêng?”
Nét cười nơi khóe miệng hắn nhạt đi.
Nàng tiếp: “Hạ quan đến để hiệu đối sổ quốc thư. Tờ này không nằm trong danh mục giao nhận. Xin thượng thư thu lại, tránh để một văn thư ngoài hồ sơ làm lẫn biên bản.”
Tưởng gấp tờ giấy, chậm rãi cất vào ngăn. “Cô thận trọng hơn cha mình.”
“Cha hạ quan đã trả giá để dạy điều ấy.”
Hai thư lại cúi thấp hơn, không ai dám thở mạnh. Tưởng quay lại trang ngày mười bảy. Hắn nói Lễ bộ có thể cấp cho Nội Lễ một bản sao đóng dấu, với điều kiện Tạ Uyển xác nhận không phát hiện sai lệch về giờ tiếp thư. Nàng đọc kỹ câu xác nhận đã viết sẵn. Chỉ cần ký, ngày chết của Thục phi sẽ bị tách khỏi quốc thư thêm một lần nữa; trang bốn mươi bảy cũng biến thành chi tiết không liên quan. Tạ Uyển gạch bốn chữ “không có sai lệch”, thay bằng “chưa đủ căn cứ kết luận”, rồi ghi rõ bản sao chỉ phản ánh các trang được xuất trình.
“Cô biết sửa lời của Lễ bộ có thể bị xem là bất kính?” Tưởng hỏi.
“Biên bản hiệu đối thuộc trách nhiệm của người ký. Hạ quan không thể kính một câu mình không thể chứng.”
Một quân trắng trong tay Tưởng rơi xuống bàn cờ, chạm mặt gỗ phát ra tiếng khô. Cuối cùng hắn đóng ấn cho bản sao. Đó không phải nhượng bộ. Hắn chỉ muốn xem nàng sẽ đi được bao xa khi từng bước đều phải để lại tên mình.
Khi việc giao nhận hoàn tất, Tạ Uyển đứng dậy hành lễ. Tưởng không giữ nàng, chỉ hỏi như thuận miệng: “Tạ Hành năm nay mười bảy?”
Móng tay nàng bấm nhẹ vào mép tay áo. “Vâng.”
“Nghe nói học nghiệp không tệ, lại có chí phục hồi gia môn. Lễ bộ đang gọi một số sinh đồ địa phương vào kinh để khảo bổ trước kỳ thu thí. Một cơ hội tốt như vậy, Tạ gia không nên bỏ lỡ.”
Tạ Uyển nhìn thẳng hắn. “Em trai hạ quan chưa từng nộp đơn xin khảo bổ.”
“Không phải cơ hội nào cũng cần người dưới xin.” Tưởng đặt quân trắng cuối cùng vào khoảng trống bị quân đen vây kín. “Ta đã ký công văn từ ba ngày trước.”
Ngoài hiên, gió sớm lùa qua dãy chuông đồng, tiếng va mỏng và lạnh. Tạ Uyển hiểu vì sao người từ kinh đã về quê hỏi hồ sơ Tạ gia, hiểu lời mời hiệu đối hôm nay không phải để đổi lấy sự im lặng của nàng. Tưởng đã đi trước một bước, đưa người thân của nàng lên bàn cờ rồi mới hỏi nàng muốn chơi thế nào.
Nàng vẫn giữ giọng đúng lễ: “Tạ Hành đang ở đâu?”
Tưởng cúi mắt nhìn thế cờ. “Đêm qua đã qua trạm Đông Bình. Nếu đường không chậm, sáng mai sẽ vào cửa nam kinh thành.”
Tạ Uyển siết bản sao chính sổ trong tay. Trên trang bốn mươi tám, dấu giáp lai đỏ như một vệt máu đã khô; còn trang bốn mươi bảy vẫn là một khoảng trống không ai chịu gọi tên.
Đến lúc nàng bước ra khỏi Lễ bộ, quân cờ của Tưởng đã ở trên đường tới kinh.
