Bỏ qua nội dung

Vet Son Tren Co Tay

Chương 48 - Chương 48: Tên Trên Phiếu Thi

Chương 48: Tên Trên Phiếu Thi

“Máu đã thấm qua lớp băng.”

Mạnh Nương nói khi chiếc xe chở nhân chứng vừa khuất hẳn sau hàng liễu. Bà không nâng giọng, nhưng bàn tay đã chặn trước vai trái Lục Thanh. Dưới ánh đèn che bằng giấy dầu, một vệt sẫm đang lan từ mép áo ra ngoài. Thanh nhìn con đường tối thêm một lần rồi mới ngồi xuống bậc đá. Người sống đã đi khỏi nơi có thể bị gọi tên. Bây giờ nàng mới cho phép mình nghĩ đến vết thương.

Cuống phiếu bọc sáp vẫn nằm giữa tấm vải sạch. Thanh bảo Mạnh Nương đọc lại từng câu cô gái chép sổ vừa khai, còn nàng dùng tay phải ghi vào hai mảnh giấy giống nhau: giờ giao nhận, địa điểm dưới bờ nam cầu Nam Thủy, tình trạng lớp sáp, nửa dấu tròn và con số mười bảy. Một bản theo Mạnh Nương về sân thuốc, một bản do Thanh giữ. Cuống phiếu được đặt giữa hai lớp giấy bản, buộc chỉ ngang dọc rồi mới ép dấu của phường lên nút buộc. Không ai bôi thêm sáp lên vật gốc.

“Cô còn định mang nó chạy tiếp?” Mạnh Nương hỏi.

“Không.” Thanh siết nút chỉ bằng một tay. “Đêm nay thứ cần chạy đã chạy rồi. Giấy này phải đi chậm.”

Mạnh Nương nhìn nàng một lúc, rồi gọi người đàn bà ở sân thuốc mang hộp kim chỉ ra. Khi lớp áo vai được cắt mở, hai mũi khâu phía ngoài đã kéo căng, một chỗ rịn máu nhưng chưa bật hẳn. Bà rửa tay bằng rượu thuốc, ép gạc sạch và buộc lại băng theo lời dặn Tang Ngọc từng để lại. Thanh không phản đối, chỉ hỏi mỗi lần bà đổi lớp vải rằng cuống phiếu còn nguyên trong tầm mắt hay không.

“Cô giữ giấy như giữ người.”

“Giấy này đang mang tên một người chết. Giữ sai, người sống đang dùng tên ấy sẽ thành vô can.”

Tiếng vó ngựa tới gần khi trời phía đông vừa nhạt màu. Đỗ Mạnh nhảy xuống trước khi con ngựa dừng hẳn. Gấu áo anh dính bùn, cổ tay có một vết xước dài, nhưng biên nhận vẫn còn trong lớp áo trong. Chiếc xe rỗng đã kéo được hai kẻ bám theo tới tận kho than phía bắc; kẻ thứ ba bỏ đi giữa đường. Y quán chưa bị lục, Tang Ngọc và A Miên vẫn an toàn lúc anh rời đó.

Thanh hỏi ngay: “Ai ở bàn kiểm cầu báo tin cho họ?”

“Chưa biết.” Đỗ Mạnh thở gấp. “Nhưng phường trưởng có tin khác. Trước lúc mở cửa trường, mỗi phường quanh trường thi đều nhận một bản đối danh ngoại môn để kiểm xe, kiểm người bảo kết và tránh sĩ tử trà trộn. Bản của phường Nam Thủy vừa chuyển tới. Tên trên đó là bản sao từ danh sách chính.”

Mạnh Nương cau mày. “Bản sao không đủ buộc tội ai.”

“Đủ để biết có nên chạm vào bản chính hay không,” Thanh nói.

Nàng đứng dậy quá nhanh, vai trái đau thốc khiến bàn tay phải phải chống vào thành xe. Mạnh Nương không ngăn, chỉ đưa bản ghi giao nhận của mình cho người sân thuốc cất riêng rồi nhận lấy gói cuống phiếu. “Ta mang vật gốc. Cô nhìn danh sách. Nếu có người giật, họ sẽ phải chọn giữa giấy và cô.”

Thanh lắc đầu. “Không ai được dùng ta làm mồi.”

“Ta cũng không dùng.” Mạnh Nương đáp, giọng khô. “Ta chỉ không để một người bị thương ôm cả chứng cứ lẫn lòng nóng.”

Họ trở lại cầu khi chuông mở chợ vang lần đầu. Thanh chắn đã được kéo lên, nhưng ba người áo nâu không còn ở bàn kiểm. Viên giữ cầu tránh mắt Đỗ Mạnh và nói mình chỉ làm theo giấy chuyển từ một người của Lễ bộ, không biết tên. Thanh không ép. Một lời khai lấy trong sợ hãi lúc này chỉ khiến hắn có cớ rút lại sau đó.

Dưới nhịp cầu thứ ba không có ánh đèn trắng. Trời đã sáng, tín hiệu Dao hẹn vốn chỉ cần xuất hiện trước giờ Dậu, nhưng Thanh vẫn nhìn khoảng tối dưới vòm đá lâu hơn mức cần thiết. Nàng không biết Dao đã đặt lại chốt cổng tro hay chưa, cũng không biết dấu tay mình trên cổ tay nàng ấy có kịp tan trước khi người Hầu phủ nhìn thấy. Thanh quay đi trước khi nỗi lo biến thành một lý do để trở lại nơi nàng đã hứa không dùng Dao đổi lấy chứng cứ.

Phường trưởng chờ họ tại căn phòng nhỏ cạnh kho dây cầu. Ông đặt bản đối danh lên bàn, không giao hẳn cho ai. Tờ giấy có dấu sao lục ở góc phải, mỗi hàng ghi số phiếu, tên sĩ tử, quê quán và người bảo kết. Thanh không nhìn con số mười bảy trước. Nàng kiểm giấy, mực và dấu trước: giấy cùng khổ với các tờ khác, mép đóng quyển chưa bị tháo; mực đã khô đều; dấu sao lục nằm dưới ba hàng chữ cuối, không có vết đè mới.

“Nếu thấy tên, cô định làm gì?” phường trưởng hỏi.

“Ghi lại vị trí của nó. Không lấy giấy, không sửa giấy, không hô bắt người.”

“Nếu người đó thật sự tới cửa trường?”

Thanh nhìn gói vật chứng trong tay Mạnh Nương. “Thì ta ghi rằng một người sống đã dùng tên chết để qua cửa. Còn hắn là ai, ai phát phiếu, ai biết cái tên đã chết—đó là ba câu khác nhau.”

Phường trưởng gật đầu rồi lật đến tờ thứ tư. Hàng mười bảy nằm gần cuối trang. Thanh đọc từ tên ở hàng mười sáu xuống, rồi dừng lại.

Lương Cảnh Du.

Bốn chữ không lớn hơn những chữ bên cạnh. Chính vì bình thường như vậy, chúng càng khiến căn phòng im đi. Bên dưới tên là quê quán ở huyện Thanh Xuyên. Ô người bảo kết ghi Tống Hành Chu, nét sao lục rõ và thẳng. Thanh không chạm vào giấy. Nàng bảo Đỗ Mạnh đọc độc lập, rồi bảo phường trưởng đọc lần thứ ba. Sau đó nàng ghi nguyên thứ tự hàng mười sáu, mười bảy, mười tám, vị trí dấu sao lục và một vết mực nhỏ hình móc câu cạnh chữ “Du”.

Đỗ Mạnh nghiến răng. “Tống Hành Chu đã ký. Chừng này còn chưa đủ sao?”

“Chữ ký bảo kết chứng minh hắn đứng tên bảo đảm cho hồ sơ.” Thanh gấp bản ghi của mình. “Nó chưa chứng minh hắn biết Lương Cảnh Du đã chết. Càng chưa chứng minh hắn là người phát phiếu.”

“Cô còn định giữ sạch cho hắn?”

“Ta giữ sạch cho vụ án.”

Phường trưởng đóng thêm dấu xác nhận vào bản ghi, nhưng không cho họ mang bản đối danh rời phòng. Trước giờ mở cửa trường, bản ấy phải được treo dưới mái hành lang phía đông để sĩ tử tự kiểm tên. Thanh đồng ý đi cùng. Nàng không có thân phận nha môn, nên đứng ngoài dây chắn như mọi người dân khác. Đỗ Mạnh mặc thường phục, còn Mạnh Nương giữ gói cuống phiếu dưới lớp áo choàng sẫm.

Trước trường thi, người đã đông như nước dồn qua cổ chai. Sĩ tử ôm hòm, gia nhân giữ chăn áo, người bảo kết chen nhau tìm tên trên các tờ danh sách. Trên tường cao, những lỗ thông khí đen ngòm mở ra như mắt không ngủ. Thanh đứng chếch phía hàng mười bảy, đủ thấy bảng nhưng không chắn lối.

Con số trên cuống phiếu không tự nó chứng minh gì. Có thể là số kho, số bản chép, thậm chí số người giao. Nàng cần thấy quy trình dùng nó. Khi tiếng mõ thứ nhất vang lên, quan giữ cửa bắt đầu gọi từng số. Sĩ tử tiến lên, trình phiếu, đọc tên và quê quán; viên lại đối chiếu nửa dấu trên phiếu với cuống lưu trong hộp gỗ rồi mới cho qua cửa thứ nhất.

Đến số mười lăm, một người áo nâu xuất hiện ở mép đám đông. Thanh nhận ra gót ủng có một mảng sáp đỏ đã bị cạo, chỉ còn vụn bám trong đường chỉ. Hắn là kẻ đã đưa tay định mở chăn trên cầu. Hôm nay hắn khoác thêm áo dài màu tro, bên hông đeo thẻ của một nhà thuộc Lễ bộ.

Hắn cũng nhận ra nàng.

“Người bị đình việc không nên đứng gần cửa trường,” hắn nói nhỏ.

“Ta đứng ngoài dây.”

“Một câu của cô cũng đủ làm loạn khoa cử.”

“Vậy ông đừng cho ta câu nào để nói.”

Người áo nâu nhìn về bản đối danh rồi bước tới bàn của viên lại. Hắn lấy ra một mảnh giấy gấp tư, nói hàng mười bảy có sai sót quê quán, cần rút xuống sửa trước khi gọi tên. Viên lại vừa đưa tay thì phường trưởng chặn lại.

“Bản sao đã đóng dấu và treo công khai,” ông nói. “Muốn sửa, xin ghi tên người yêu cầu, giờ sửa, nội dung cũ và nội dung mới.”

Người áo nâu lạnh mặt. “Chỉ sửa một chữ.”

Thanh đứng ngoài dây, không xen lời. Nàng biết hắn muốn nàng bước vào, muốn một nữ ngỗ tác bị đình việc chạm tay lên danh sách khoa cử trước mặt hàng trăm sĩ tử. Chỉ cần một người hô nàng phá bảng, mọi chứng cứ sau đó đều có thể bị gọi là thứ nhặt được trong lúc gây loạn.

Tiếng mõ thứ hai vang lên. Viên giữ cửa nói danh sách không được rút sau mõ thứ hai nếu chưa có lệnh mang đại ấn. Người áo nâu siết mảnh giấy trong tay. Hắn không có đại ấn.

“Số mười bảy,” viên lại gọi.

Đám đông phía sau tách ra. Một nam tử mặc áo xanh sẫm bước tới, hòm sách do gia nhân mang theo. Hắn khoảng ngoài hai mươi, vóc người cân đối, mặt sạch, không có vẻ vội vã của kẻ sắp bước vào trường. Người áo nâu lùi nửa bước, vừa đủ nhường đường cho hắn.

Viên lại hỏi: “Tên?”

Nam tử đưa phiếu bằng hai tay. “Lương Cảnh Du.”

Giọng hắn rõ, không run. Viên lại kiểm quê quán, rồi lấy nửa cuống trong hộp gỗ áp vào mép phiếu. Hai nửa dấu tròn khép lại. Ở góc dưới, con số mười bảy hiện đủ, cùng một kiểu mực đỏ còn mới như trên mảnh giấy cô gái chép sổ đã giao.

Mạnh Nương không mở gói vật chứng. Bà chỉ khẽ dịch ngón tay, để Thanh biết nó vẫn ở đó. Đỗ Mạnh nhìn phường trưởng. Phường trưởng nhìn thẳng vào người vừa đọc tên, ghi giờ qua cửa vào bản kiểm.

Thanh ghi theo. Nàng không ghi “Lương Cảnh Du còn sống”. Người thật đã chết, và câu ấy sẽ biến cái tên giả thành một cuộc tranh cãi về thi thể chưa có mặt. Nàng viết: “Một nam tử không rõ thân phận, tự xưng Lương Cảnh Du, xuất trình phiếu số mười bảy có dấu trường thi khớp cuống lưu, đã được cho qua cửa thứ nhất.”

Viên giữ cửa trả lại phần phiếu phải mang vào trong. Nam tử áo xanh quay người. Trong khoảnh khắc bước qua dây chắn, hắn nhìn thẳng về phía Thanh. Ánh mắt không có vẻ ngạc nhiên, như thể hắn đã được mô tả trước rằng ở cửa trường sẽ có một nữ tử áo xám, vai trái buộc cứng và đôi tay luôn tránh chạm vào thứ chưa được phép.

Rồi hắn mỉm cười rất nhẹ.

Cửa thứ nhất khép sau lưng hắn. Trên bản đối danh, cái tên Lương Cảnh Du vẫn nằm ở hàng mười bảy, ngay ngắn như tên của một người chưa từng chết.