Bỏ qua nội dung

Vet Son Tren Co Tay

Chương 34 - Chương 34: Cô Nương Tên Cúc

Then cửa dưới lầu nứt thêm một tiếng. Mảnh gỗ khô bật khỏi khung, lăn qua hành lang như một dấu chấm hết bị ném vào giữa câu nói. Trong phòng Cúc, Lục Thanh không ngẩng lên. Nàng đặt ngọn đèn thấp hơn, nhìn lần lượt bàn tay, cổ áo và phần tóc xõa trên gối, rồi nói với Mạnh Nương: “Cho tôi một sợi chỉ trắng, một tờ giấy sạch và hai chén không.”

Mạnh Nương đứng bên rèm, một tay giữ chặt chiếc trâm gỗ trên tóc. “Cửa dưới sắp vỡ mà cô còn định bày dụng cụ?”

“Cửa vỡ thì người sống phải chạy. Người chết đã không còn đường chạy.” Thanh dùng đầu nhíp chỉ vào chén trà trên bàn. “Nếu bà muốn mang nàng ấy khỏi đây, tôi phải ghi lại vị trí trước. Nếu không, từ sáng mai bất kỳ ai cũng có thể nói Cúc tự uống độc, tự khóa cửa, hoặc bị Lưu Hương giết. Khi đó bà không còn gì để cãi.”

Thẩm Dao đã lấy giấy và chỉ từ chiếc hòm may nhỏ cạnh cửa sổ. Nàng không thúc Mạnh Nương, chỉ quỳ xuống phía bên kia bàn, giữ tờ giấy khỏi rung bởi luồng gió lọt qua rèm. Sự bình tĩnh ấy khiến căn phòng bớt giống nơi sắp bị phá cửa, nhưng Thanh nhìn thấy đầu ngón tay Dao lạnh trắng. Chuông canh hai đã qua khá lâu. Con đường trở lại Hầu phủ của nàng đang ngắn dần theo từng tiếng cạy then dưới lầu.

Thanh căng sợi chỉ từ chân giường đến mép bàn, đánh dấu khoảng cách bằng những nút nhỏ, rồi phác nhanh vị trí chén trà, cây kim châm bấc, lò than và cửa sổ. Then cửa phòng vẫn nằm trong lỗ khóa phía trong dù bản lề đã bị tháo. Chốt cửa sổ cũng khép, bụi trên bậu không có vệt bàn tay mới. Không ai rời căn phòng bằng hai lối ấy sau khi Cúc khóa mình lại, nhưng điều đó không chứng minh nàng tự tìm đến cái chết. Một thứ được uống từ trước có thể giết người sau khi cánh cửa đã đóng.

Nàng đặt mu bàn tay gần mũi Cúc, kiểm tra lần cuối rồi nhẹ nhàng nâng cằm. Da mặt còn ấm bởi lò than, nhưng hàm đã bắt đầu cứng, các ngón tay co lại không còn mềm như người vừa tắt thở. Thanh nhìn than trong lò: lớp tro trên cùng đã trắng, phần lõi chỉ còn đỏ âm ỉ. “Nàng ấy chết trước lúc ngọn đèn ngoài cửa tắt,” nàng nói. “Hơi nóng trong phòng giữ thân thể ấm hơn thực tế. Người tắt đèn không nhất thiết là người chết.”

Cô gái nhỏ ôm chậu nước ngoài cửa bật khóc thành tiếng. Mạnh Nương quay sang quát khẽ: “A Miên, im.” Nhưng giọng bà không còn sắc. Cô gái tên A Miên cắn môi, hai vai run lên. Thanh hỏi ai là người cuối cùng thấy Cúc còn sống. A Miên đáp rằng sau bữa tối nàng mang nước nóng lên, thấy Cúc tự rót trà nhạt rồi xé một gói giấy nhỏ, đổ thứ bột vàng vào chén. Cúc nói đó là thuốc cũ, uống xong sẽ đỡ hồi hộp. Gói thuốc được đưa tới từ chiều, kẹp trong một túi áo bẩn trả về từ hiệu giặt ở cầu Nhạn.

Cầu Nhạn. Cũng là nơi người đàn bà bán hương đã nhận bức thư cầu cứu. Thanh nhìn lớp bột vàng dưới móng Cúc. Nó tập trung ở ngón cái và ngón trỏ, nơi người ta kẹp mép giấy để xé, không phủ đều như thuốc nhuộm móng. Nàng cạo một phần rất nhỏ lên giấy, gấp thành ba lớp rồi ghi giờ lấy mẫu. Phần còn lại được giữ nguyên. Chén trà có một vệt mỏng bám ở thành, màu không khác trà thường. Thanh không nếm, cũng không dùng bạc thử như những kẻ thích kết luận trước khi hiểu mình đang thử thứ gì. Nàng rót một ít sang chén sạch, bọc miệng bằng giấy dầu và buộc chỉ có nút riêng.

Mạnh Nương bước tới chặn tay nàng khi Thanh định xem miệng Cúc. “Đủ rồi. Cô đã lấy trà, lấy bột. Không được cởi áo, không được khám sâu. Người từng đến căn phòng này không phải loại để chúng tôi gọi tên rồi vẫn sống yên.”

Thanh dừng lại. “Tôi không mổ khám, cũng không làm nhục nàng ấy. Tôi chỉ xem môi, lưỡi, cổ và cổ tay. Bà có thể đứng bên cạnh.”

“Cô nghĩ người quyền quý sợ một vết ở cổ tay sao? Họ sợ tên mình bị đặt cạnh tên một kỹ nữ.” Mạnh Nương nhìn sang Dao. “Thẩm tiểu thư hiểu hơn ai hết. Chỉ cần có bản nghiệm, người ta sẽ hỏi Cúc tiếp ai, ngủ với ai, nhận bạc của ai. Trước khi hung thủ bị chạm tới, những cô gái còn sống ở đây đã bị kéo ra công đường cho cả thành nhìn.”

Dao không tránh ánh mắt ấy. “Nếu không có bản ghi nào, họ sẽ viết thay. Khi đó Cúc sẽ thành kẻ tự vẫn vì tình, bà thành chủ quán giết người, còn những kẻ đang cạy cửa sẽ là người đầu tiên nói mình đến cứu.” Nàng đặt tay lên tờ phác vị trí hiện trường. “Chúng ta không cần công khai đêm nay. Nhưng phải có thứ không ai sửa được vào sáng mai.”

Ngoài hành lang, tiếng chân chạy dồn lên. Một cô gái báo thanh ngang cửa trước đã bật khỏi mộng, chỉ còn tủ gỗ giữ được một lát. Mạnh Nương nhắm mắt đúng một nhịp rồi lùi khỏi giường. “Chỉ xem bên ngoài. Không cởi áo quá vai, không gọi tên khách, không mang thi thể ra cửa chính.”

Thanh gật đầu. Nàng dùng khăn sạch kéo nhẹ môi dưới của Cúc. Không có vết cắn, không có bọt hay mùi nồng đủ để gọi tên một thứ độc. Đầu lưỡi hơi nhợt, khóe môi có một vệt trà rất mỏng. Cổ không có dấu bóp, sau tai không có bầm mới. Hai cổ tay sạch, nhưng trong lòng bàn tay trái có một vết xước nhỏ và dính sáp hồng cùng loại với đoạn bấc gửi đến nha môn. Cúc từng cầm ngọn đèn hoặc phần bấc đã chuẩn bị. Bức thư và tín hiệu đèn thuộc cùng một kế hoạch, không phải sự hoảng loạn cuối cùng.

Thanh vừa kéo lại cổ áo cho Cúc thì dưới lầu vang lên tiếng gỗ đổ. Một giọng đàn ông quát rằng tuần đêm đã vào kiểm tra, ai chống sẽ bị bắt vì chứa trộm. Ngay sau đó một giọng khác thấp hơn nói rất nhanh: “Lên phòng đèn Cúc. Tìm thẻ của nó trước.” Câu nói lọt qua khoảng trống cầu thang, đủ rõ để ba người trong phòng cùng nghe.

Mạnh Nương đổi sắc mặt. Bà không hỏi Thanh nghĩ gì nữa, chỉ quay ra lệnh mở toàn bộ cửa sổ tầng trên. Sáu cô gái đồng loạt gõ chậu đồng vào lan can, kêu lớn có cướp phá quán. Tiếng động dội sang những mái nhà lân cận. Đèn ở hai hiệu hương bên cạnh lần lượt sáng lên, rồi có người mở cửa chửi vọng sang. Những kẻ dưới lầu đã dám giả danh tuần đêm trong bóng tối, nhưng không muốn cả phố nhìn rõ mặt khi họ phá một kỹ quán không có lệnh khám.

Có người lao lên ba bậc thang. A Miên và hai cô gái kéo dây, tấm rèm gỗ trang trí trên trần rơi xuống chắn ngang lối, không đè trúng ai nhưng buộc kẻ kia dừng lại. Mạnh Nương đứng ở đầu hành lang, nói lớn từng chữ: “Muốn khám thì gọi phường trưởng, mang lệnh có ấn, đọc trước mặt hàng xóm. Lưu Hương mở cửa bằng luật, không mở bằng giày đinh.”

Tiếng chửi dưới lầu kéo dài một lúc, sau đó rút dần về phía cửa. Trước khi đi, kẻ cầm đầu ném lại một câu: “Canh ba sẽ có lệnh thật. Giấu thẻ người chết cũng không cứu được các ngươi.” Mạnh Nương không đáp. Đến khi tiếng chân ngoài hẻm biến mất, bà mới ra hiệu đóng cửa sổ, nhưng những chậu đồng vẫn được đặt sẵn bên lan can. Lưu Hương đã đổi sự kín đáo lấy vài chục ánh mắt của hàng xóm. Cái giá ấy chưa phải máu, nhưng từ đêm nay nơi này không còn hoàn toàn ẩn được nữa.

Thanh nhìn về phía ngọn đèn tắt ngoài phòng. “Thẻ của Cúc ở đâu?”

“Không có.” Mạnh Nương đáp quá nhanh.

“Người ngoài kia biết có. Họ không hỏi thi thể, không hỏi thư, chỉ hỏi thẻ.” Thanh đặt gói mẫu trà vào túi dụng cụ. “Nếu bà còn giấu, tôi không thể biết họ muốn xóa nguyên nhân chết hay muốn xóa tên nàng ấy.”

Mạnh Nương đi tới chiếc đèn đặt sát vách, tháo đáy gỗ bằng một động tác đã làm nhiều lần. Từ khoang rỗng bên trong, bà lấy ra một thẻ mỏng bọc vải đen. Mặt trước khắc một bông cúc nhỏ và chữ Cúc. Mặt sau không phải tên khách hay số phòng, mà dán một mảnh giấy hộ tịch đã ngả vàng. Dòng chữ trên đó ghi: Trần Tú Cúc, nữ, phường Đông Khê. Bên cạnh là dấu xác nhận tử vong vì bệnh dịch, niên hiệu ba năm trước.

Dao cúi sát hơn, không chạm tay vào giấy. “Một người đã chết thì không thể có thẻ ra vào kỹ quán tối nay.”

“Người mang tên ấy chết rồi,” Mạnh Nương nói. “Cô gái trên giường không phải nàng ta.” Bà nhìn khuôn mặt Cúc qua lớp rèm mỏng, giọng khàn xuống. “Sáu tháng trước cô ấy đến đây với tờ giấy chết này, xin tôi cho mượn cái tên không còn ai đòi lại. Tôi chưa từng hỏi tên thật. Ở Lưu Hương, đôi khi không hỏi là cách để một người sống thêm.”

Thanh đặt mảnh giấy cạnh bức thư đã chuẩn bị từ trước, giữa hai thứ đều là cái tên Cúc nhưng không thứ nào nói được người trên giường sinh ra là ai. Nàng từng nghĩ người chết bị cướp tên là tận cùng của sự tàn nhẫn. Đêm nay, trước tiếng chuông báo canh ba, nàng hiểu còn có những người sống phải chui vào tên của người chết mới mong tránh khỏi bàn tay đang tìm mình.

Ngoài hẻm, một hồi mõ tuần thật bắt đầu vọng lại. Mạnh Nương siết chặt thẻ gỗ rồi hỏi Thanh sẽ ghi người chết này là ai. Thanh nhìn chấm mực dưới lớp bột vàng trên ngón tay Cúc, nhìn mẫu trà đã niêm và tờ giấy khai tử cũ. “Tạm thời,” nàng nói, “tôi ghi nàng là người chưa được trả tên.”

Mạnh Nương không cười. Bà đặt thẻ gỗ vào tay Thanh. “Vậy hãy tìm nhanh. Bởi tên Cúc đã chết ba năm rồi, còn người giết cô ấy vừa quay lại đòi cái tên ấy lần thứ hai.”