Bỏ qua nội dung

Vet Son Tren Co Tay

Chương 23 - Chương 23: Ngày Mưa Không Có Mưa

Chương 23: Ngày Mưa Không Có Mưa

“Ngày Nguyệt Nương chết, trời mưa từ canh một đến canh ba.” Lục Thanh đọc lại dòng chữ ở giữa tờ nghiệm trạng thứ ba, ngay dưới phần ghi hiện trường. Nét mực ở đó sẫm hơn những dòng chung quanh, chữ “mưa” chạm sát mép chữ trước như được chen vào một khoảng vốn không dành cho nó. Phần khám ban đầu ghi lòng bàn chân người chết sạch, gót không dính đất. Phần bổ sung lại giải thích rằng sân sau lầy bùn vì mưa lớn, dấu chân đã bị nước xóa, nên không thể đối chiếu đường đi đến gian treo dây.

Đỗ Mạnh nhìn bầu trời sáng khô trên đầu rồi cau mày. “Chuyện ba năm trước, ai còn nhớ có mưa hay không?” “Không cần nhớ.” Thanh gấp tờ giấy theo một nếp mới, tách dòng ghi ngày khỏi phần câu kết bị sửa. “Cửa nước phải nhớ.”

Nàng không mang cả ba bản trở lại kho nghiệm. Đỗ Mạnh tìm một người bán giấy gần nha môn, mua ba tờ giấy bản cùng kích cỡ rồi đứng nhìn Thanh chép lại từng chữ, đo cả khoảng cách từ mép giấy đến câu kết. Bản gốc được bọc lại bằng giấy dầu, đặt dưới đáy hộp dụng cụ của Chu Hoài Sinh, bên trên xếp kim tre, dây đo và hai túi bột khử mùi. Bản sao để Đỗ Mạnh cầm công khai. Nếu có người giật lấy, thứ họ cướp chỉ là chữ đã được hai người cùng nhìn thấy.

Đông Thủy Môn cách nha môn hơn nửa dặm. Nước từ hào thành chảy qua ba cửa xả, mỗi ngày đều có người đo mực nước hai lần vì chỉ cần mở nhầm một cánh cửa, ruộng rau phía ngoài thành sẽ bị ngập hoặc khô. Những ngày mưa, người canh phải ghi giờ bắt đầu, giờ dứt, độ nước dâng và số lần nâng then. Đó không phải sổ án, cũng không nằm dưới tay Trịnh Bỉnh.

Người giữ sổ là một lão lại dịch lưng còng, mắt luôn nheo vì nhiều năm nhìn vạch nước dưới nắng. Nghe Đỗ Mạnh hỏi đến ngày mồng chín tháng tám ba năm trước, lão không vội lấy sổ. “Bộ khoái tra án nào mà phải xem nước cũ?” “Án có người chết đi qua một sân bùn.” Thanh đáp. Lão lại dịch nhìn áo xám và túi dụng cụ của nàng, nhận ra nghề ngỗ tác thì bàn tay đang đặt trên chùm chìa khóa khựng lại. Sự dè chừng ấy quá quen, Thanh không giải thích thêm. Nàng chỉ nói: “Chúng ta không xin mang sổ đi. Chỉ xin ông mở đúng tháng, đọc trước mặt chúng ta và hai người canh cửa hôm nay.”

Đỗ Mạnh hiểu ý, lập tức gọi hai thủy phu đang kéo dây đo nước lại đứng làm chứng. Khi có đủ mắt nhìn, lão lại dịch mới mở hòm gỗ. Những quyển sổ canh nước được bọc vải thô, gáy ám mùi ẩm nhưng mép giấy khô giòn. Lão lần theo năm, tháng rồi dừng ở một trang có dấu ngón tay đen ở góc dưới. Dòng mồng chín tháng tám viết rất ngắn: “Trời quang. Gió bắc nhẹ. Nước hạ hai phân. Ba cửa không mở.” Dòng trước và dòng sau đều ghi mưa. Mồng tám, mưa cuối canh tư, cửa giữa mở một lần. Mồng mười, mưa rào giờ Mùi, nước dâng một phân. Chính vì hai ngày kề nhau có mưa, dòng ở giữa càng rõ. Người ghi sổ không bỏ quên thời tiết; hôm Nguyệt Nương chết, trời quang.

Đỗ Mạnh thở ra qua kẽ răng. “Một quyển sổ đủ chưa?” “Đủ để nghi. Chưa đủ để buộc người khác không chối.” Thanh nhìn phần cuối trang. Mỗi buổi tối, sổ nước có một dấu đối chiếu của đội tuần thành sau khi họ đi qua cầu cống. “Sổ tuần đêm ở đâu?” Lão lại dịch không đáp ngay. Ánh mắt lão chuyển ra ngoài cửa, nơi một người mặc áo văn lại vừa xuất hiện ở đầu cầu. Người ấy không phải kẻ trẻ tuổi đã đến cửa nước lúc sáng, nhưng trên tay cầm thẻ bài nha môn. Tin đã đi nhanh hơn họ.

“Trịnh đại nhân truyền gọi Lục Thanh về công đường.” Văn lại nói. “Có người tố ngươi lấy trộm nghiệm trạng, lại tự tiện tra sổ công.” Đỗ Mạnh bước lên nửa bước. Thanh đưa tay chặn hắn. “Ta sẽ về. Nhưng trước hết, xin ngươi đọc dòng này.” Văn lại không nhìn vào trang sổ. “Ta không phụng lệnh tra nước.” “Vậy ngươi phụng lệnh ngăn người khác đọc?” Hai thủy phu nhìn nhau. Lão giữ sổ khép bàn tay lên mép giấy, không đóng lại. Văn lại biết nếu cưỡng lấy sổ trước mặt họ, chuyện sẽ thành một lần sửa hồ sơ khác. Hắn đành đứng sang bên, mặt lạnh như đá, chờ Thanh ghi nguyên văn dòng mồng chín vào bản sao. Lão lại dịch đóng dấu nhỏ của Đông Thủy Môn bên dưới, còn hai thủy phu điểm chỉ làm chứng rằng quyển gốc chưa rời khỏi hòm trước khi được mở.

Sổ tuần đêm không kịp xem. Khi Thanh và Đỗ Mạnh trở lại nha môn, công đường đã mở cửa, dù chưa đến giờ xử việc. Trịnh Bỉnh ngồi sau án thư. Bên dưới có sáu văn lại, Phùng cai ngục và người thư lại nhà lao. Cách bày người không phải để nghe sự thật, mà để biến nàng thành kẻ một mình chống lại cả nha môn. Trên án thư đặt một quyển lịch canh mưa bìa xanh.

Trịnh Bỉnh không hỏi ba nghiệm trạng ở đâu. Ông ta nhìn thẳng vào hộp dụng cụ của Thanh. “Ngươi nói ngày Nguyệt Nương chết không mưa?” “Đông Thủy Môn ghi trời quang, nước hạ, không mở cửa xả.”

“Cửa nước ở ngoài thành. Mưa trong thành, ngoài thành không mưa, có gì lạ?” Trịnh Bỉnh lật quyển bìa xanh đến một trang đã đánh dấu. “Lịch của nha môn ghi canh hai có mưa. Ngươi lấy một quyển sổ không thuộc án, rồi định dùng nó lật hồ sơ chính. Nếu hôm nay ta không chặn, ngày mai ngươi có thể tìm bất kỳ tờ giấy nào hợp lời mình muốn nói.” Một văn lại đọc lớn dòng trong lịch: “Mồng chín tháng tám, canh hai mưa, canh ba dứt.”

Đỗ Mạnh siết tay. Thanh không nhìn hắn. Nàng nhìn trang giấy bìa xanh từ khoảng cách ba bước, rồi nói: “Xin đặt quyển sổ xuống bàn thấp.” Trịnh Bỉnh cười nhạt. “Ngươi còn muốn khám cả giấy?” “Giấy không biết nói dối. Người viết thì có.”

Không khí trong công đường nặng đi. Trịnh Bỉnh vẫn ra hiệu cho văn lại mang sổ xuống, có lẽ vì ông ta tin nàng không thể tìm ra gì trước nhiều người như vậy. Thanh không chạm vào trang giấy ngay. Nàng cúi nhìn đường kẻ dọc, màu mực, những chỗ giấy hút ẩm và lớp bụi nằm ở gáy. Các ngày khác đều được ghi bằng một bàn tay đều, mỗi dòng cách đường kẻ trên một khoảng bằng nhau. Riêng chữ “mưa” ở ngày mồng chín thấp hơn nửa nét, mực đen hơn, phần cuối kéo xuống rồi móc ngược lên. Nét móc ấy giống câu kết trên ba bản tự vẫn.

Nhưng giống nét chữ chưa đủ. Thanh lấy một sợi tóc cứng trong túi dụng cụ, luồn rất nhẹ dưới mép chữ “mưa”. Một mảnh xơ giấy nhỏ bật lên. Trước khi viết thêm, người ta đã dùng lưỡi dao cạo chữ cũ. Dưới ánh sáng xiên từ cửa công đường, nền giấy hiện một vệt trắng nhám hình dài. Ở đầu vệt còn sót nửa nét mực xám. Thanh xoay trang về phía mọi người. “Dòng này ban đầu có hai chữ.” Trịnh Bỉnh nói ngay: “Sổ cũ được sửa lỗi là chuyện thường.” “Đúng. Nhưng sửa lỗi phải có ký nhận ở lề.” Thanh chỉ sang những trang trước. Mỗi chỗ đổi giờ đều có tên người trực và dấu nhỏ bên cạnh. “Dòng mồng chín bị cạo mà không ký. Chữ mới dùng loại mực có keo nhiều hơn, nằm trên lớp giấy đã hút ẩm qua nhiều mùa. Nó không được viết cùng ngày.”

Trịnh Bỉnh gằn giọng: “Đó chỉ là lời một ngỗ tác bị ám bởi vài vệt mực.” “Vậy đọc phần còn lại của dòng cũ.” Thanh đặt tờ giấy mỏng lên mặt trang, dùng cạnh than đã bọc vải lướt nhẹ quanh chỗ bị cạo, không chạm vào mực mới. Những chỗ giấy còn nguyên bắt than đều; vùng bị cạo hiện trắng. Nửa nét xám còn lại ghép với khoảng trống thành hai chữ đã mất: “không vũ”. Không mưa.

Trong công đường không ai lên tiếng. Phùng cai ngục nhìn xuống đất. Văn lại trẻ đứng cuối hàng vô thức giấu bàn tay trái vào tay áo. Thanh lấy bản sao nghiệm trạng Nguyệt Nương ra, đặt cạnh lịch canh mưa. “Bản khám đầu ghi lòng bàn chân sạch. Sau đó có người thêm rằng mưa lớn làm mất dấu đường đi. Cùng một người sửa câu kết tự vẫn và sửa cả thời tiết để hiện trường giả trở nên hợp lý. Nhưng hắn chỉ sửa sổ nằm trong nha môn. Hắn không biết Đông Thủy Môn còn giữ sổ nước độc lập.”

Trịnh Bỉnh đập tay xuống án. “Ngươi đang vu cho người trong nha môn dựa vào một nét móc!” “Ta nói có người sửa hai loại giấy bằng cùng thói quen đặt bút. Chưa nói tên.” Thanh ngẩng lên. “Đại nhân vội nhận thay ai?”

Câu hỏi rơi xuống rất nhẹ, nhưng sắc mặt Trịnh Bỉnh đổi hẳn. Ông ta lập tức ra lệnh thu cả lịch canh mưa lẫn bản sao nghiệm trạng, đồng thời cấm Thanh tiếp tục tra hồ sơ khi chưa có lệnh. Thanh không chống. Nàng chỉ yêu cầu biên nhận ghi rõ lịch mồng chín từng bị cạo, dưới chữ “mưa” còn dấu “không vũ”, và có mặt toàn bộ người trong công đường. Trịnh Bỉnh không muốn ghi. Đỗ Mạnh liền bước ra giữa sân, đọc to tên từng văn lại đang đứng đó. Một khi tên đã được gọi, họ không còn là bóng người vô can. Cuối cùng, người thư lại lớn tuổi nhất phải cầm bút lập biên nhận. Tay ông ta run, nhưng vẫn viết đủ dòng Thanh yêu cầu.

Khi rời công đường, bản sao đã bị giữ, còn bản gốc ba nghiệm trạng vẫn nằm dưới đáy hộp dụng cụ. Thanh không thấy nhẹ nhõm. Nàng chỉ thấy rõ hơn cách một cái chết được tạo ra trên giấy: trước hết sửa trời thành mưa, rồi sửa bước chân thành không thể tìm, cuối cùng sửa án mạng thành tự vẫn.

Đỗ Mạnh đi bên nàng, thấp giọng hỏi: “Bây giờ đến sổ tuần đêm?” “Không.” Thanh nhìn hai sai dịch lạ mặt đang đứng ở cổng nha môn. “Bây giờ họ biết chúng ta cần gì. Đi thẳng đến đó chỉ khiến sổ biến mất.” “Vậy làm sao lấy?”

Một cỗ xe mui kín dừng dưới mái hiên đối diện. Rèm xe không vén hẳn, chỉ hé đủ để lộ bàn tay cầm một bọc giấy buộc bằng sợi chỉ màu tro. Thẩm Dao bước xuống, áo choàng che gần hết gương mặt. Nàng nhìn Thanh, giọng mềm nhưng không có chút do dự. “Không cần đến sổ tuần đêm.” Dao nói. “Trong Hầu phủ có một bản ghi khác về ngày Nguyệt Nương chết.” Nàng đặt bọc giấy vào tay Thanh, rồi khép những ngón tay nàng quanh nó. “Nhưng cha ta đã biết có người mở tủ hồ sơ.”