Bỏ qua nội dung

Vet Son Tren Co Tay

Chương 21 - Chương 21: Lão Ngỗ Tác

Chương 21: Lão Ngỗ Tác

Trống canh vừa dứt, Thanh đã cất hai lớp khăn bọc vật chứng vào đáy hộp dụng cụ. Nàng không khóa hộp ngay. Khóa là thứ khiến người ta muốn mở; một hộp gỗ cũ đặt giữa đống dao tre, dây đo và lọ vôi lại giống thứ chẳng còn gì đáng lấy. Nàng chỉ phủ lên trên một mảnh vải thô có mùi thuốc tẩy xác, rồi kéo ngọn đèn về phía cửa sổ để ánh sáng trong phòng nghiệm nhìn từ ngoài vào vẫn giống một người đang thức ghi sổ. Đỗ Mạnh đứng cạnh bàn, mặt còn trắng nhưng mắt đã có lại tiêu cự. Hắn nhìn cách nàng dọn từng thứ về đúng chỗ, khàn giọng hỏi: “Ngươi thật sự đi ngay bây giờ?”

“Đi muộn hơn, người canh cửa đổi ca sẽ nhớ mặt ta rõ hơn.” Thanh nhét một cuộn dây đo cũ vào tay áo. “Ngươi đợi nửa khắc rồi ra cửa trước. Cứ làm như bực vì bị ta sai đi lấy nước. Nếu có ai hỏi, nói ta đang chép lại sổ nghiệm trạng đến sáng.”

Đỗ Mạnh mím môi. “Còn Tạ Văn Nhai?”

“Sáng mai làm đúng lời ta nói. Đứng ở nhà lao trước giờ điểm danh, hỏi lớn. Đừng lẻn đi cứu người trong tối.” Thanh nhìn hắn. “Đêm nay bọn họ cần bóng tối. Ngươi đừng đưa thêm cho họ.”

Câu ấy làm Đỗ Mạnh nghẹn một nhịp. Hắn không đáp lời gay gắt như mọi khi, chỉ cúi xuống nhìn bàn tay mình. Bàn tay bộ khoái quen túm cổ áo kẻ trộm, quen đập cửa nhà dân, lúc này lại run rất nhẹ vì một cái tên đã nằm im mười mấy năm trong sổ lao. Sau cùng hắn gật đầu. “Nếu lão Chu không nói?”

Thanh khép nắp hộp dụng cụ. “Vậy ta sẽ hỏi đến khi ông ấy nhớ ra người chết cũng biết đợi.”

Nàng rời phòng nghiệm bằng cửa sau, men theo rìa tường nơi rêu mọc dày. Đêm trong nha môn không yên tĩnh như người ngoài tưởng. Cửa gỗ lâu năm kêu rất khẽ khi gặp gió, lồng đèn dưới hành lang bị bấc dầu hun đen, trong sân có tiếng lính trực ngáp dài rồi nuốt lại vì sợ quản sự nghe thấy. Thanh đi qua những âm thanh ấy như đi qua một thi thể chưa kịp đặt tên: không dừng, không hỏi, chỉ ghi nhớ. Chu Hoài Sinh không ở trong khu nhà chính. Từ khi bị đẩy khỏi việc nghiệm án lớn, ông chuyển ra gian nhà thấp phía sau kho quan tài, nơi ngày mưa nước đọng ngang mắt cá và ngày nắng mùi gỗ mục vẫn không tan.

Cửa gian nhà ấy không cài then. Thanh vừa đặt tay lên ván cửa, giọng khàn của lão đã vọng ra: “Nếu là sai dịch đến mượn bút, bảo Trịnh Bỉnh tự mài mực bằng móng tay hắn. Nếu là Lục Thanh, vào đi, đừng đứng ngoài làm gió lùa chết đèn.”

Thanh đẩy cửa. Trong phòng chỉ có một ngọn đèn dầu đặt thấp, một chậu tro bếp, ba chiếc thước đo xương treo trên vách và một bàn tay già đang chậm rãi lau dao. Chu Hoài Sinh gầy hơn lần nàng gặp trước. Lưng ông còng xuống, tóc bạc buộc ẩu sau gáy, nhưng ngón tay vẫn sạch đến mức gần như cố chấp. Bàn tay của ngỗ tác già luôn sạch, không phải vì chưa từng chạm vào cái chết, mà vì đã chạm quá nhiều nên biết thứ gì không được để sót lại.

“Thầy biết ta sẽ đến?” Thanh hỏi.

“Ngươi giống con chó săn bị đánh què. Càng bảo nằm yên, càng ngửi thấy mùi máu.” Chu Hoài Sinh không ngẩng đầu. “Hôm nay kho án phụ sáng đèn quá lâu. Trịnh Bỉnh lại cho người qua hỏi ta có giữ bản mẫu nghiệm trạng cũ không. Ngươi mà không đến, ta mới thấy lạ.”

Thanh bước tới bàn, đặt một dải giấy thấm mực trước mặt ông. “Thầy nhìn nét này.”

Lưỡi dao trong tay Chu dừng lại. Ông không cầm ngay dải giấy. Người già làm nghề lâu năm thường sợ vật chứng hơn sợ quan, vì quan có thể lừa người sống, còn vật chứng chỉ cần đặt sai chỗ cũng phản lại người cầm nó. Một lát sau ông mới kéo đèn gần hơn. Ánh lửa lướt qua vệt mực đen chưa khô hẳn, qua nét chữ mảnh trên mảnh giấy bị xé, dừng ở cái đuôi kéo xuống rồi móc ngược lên như một cái móc câu nhỏ.

“Ở đâu ra?”

“Kho án phụ. Tối nay có người sửa sổ lao, hun giấy mới thành giấy cũ. Trong mảnh gáy sổ có tên Đỗ Viễn.” Thanh nhìn thẳng vào ông. “Nét ấy giống bản nghiệm án Lục Vãn.”

Chu Hoài Sinh im đến mức tiếng dầu cháy cũng rõ hơn. Ông đặt dao xuống, lấy khăn lau tay dù tay ông vốn đã sạch. “Ngươi đến hỏi chữ, hay hỏi người?”

“Hỏi sự thật.”

“Sự thật là thứ quan phủ ghét nhất khi nó không đứng đúng hàng.” Ông cười khàn, nụ cười không vui. “Ngỗ tác ăn cơm của nha môn. Bát cơm ấy mẻ, bẩn, có lúc còn lẫn máu, nhưng vẫn là bát cơm. Viết lệch một chữ, cả nhà không có cháo. Viết đúng một chữ, người chết chưa chắc đội mồ dậy cảm ơn.”

Thanh nghe hết, không ngắt. Đến khi ông dứt lời, nàng mới nói: “Vậy năm đó thầy đã chọn bát cơm.”

Một vệt đỏ mỏng bò lên mắt Chu Hoài Sinh. Ông ngẩng đầu, lần đầu nhìn nàng thật lâu. “Ngươi nghĩ ta chưa tự nói câu ấy với mình à? Từ ngày Lục Vãn được khiêng vào phòng nghiệm, mỗi lần rửa tay ta đều thấy nước đục. Rửa mười năm vẫn đục.”

Tên Lục Vãn rơi xuống giữa căn phòng thấp như một cái chén vỡ. Thanh cảm thấy ngực mình bị siết lại, nhưng mặt nàng không đổi. Nàng từng nghĩ nếu có ngày nghe thầy nhắc tên chị mình bằng giọng ấy, nàng sẽ giận đến run. Hóa ra cơn giận lâu năm khi đến gần lại lạnh hơn, giống một mũi kim đã nằm trong thịt quá lâu, rút ra không chảy nhiều máu mà chỉ để lộ một lỗ nhỏ tối đen.

“Bản nghiệm năm đó do thầy xem lần cuối trước khi nộp.” Nàng nói. “Trên bản có câu tự vẫn. Có phải thầy viết không?”

Chu Hoài Sinh nhắm mắt. “Ta viết bản đầu. Bản đầu không có hai chữ tự vẫn. Ta ghi vết dây trên cổ không đều, điểm ép lệch sang trái, dưới móng tay có vụn son đỏ rất mịn, không giống người tự treo mình trong kho củi. Ta còn ghi cổ tay phải có vết giữ, cũ hơn vết dây trên cổ nửa ngày.”

Mỗi câu của ông như mở một ngăn tủ cũ trong đầu Thanh. Mùi rơm ẩm. Tấm chiếu trắng. Mái tóc Lục Vãn rũ xuống cạnh mép bàn nghiệm. Năm ấy nàng đứng ngoài cửa, móng tay bấm vào lòng bàn tay đến bật máu, nghe người ta bảo chị nàng yếu lòng, bảo nữ tử mất danh tiết sống cũng vô ích. Nàng đã tin vào nghề ngỗ tác vì nghĩ chỉ cần học đủ giỏi, sẽ không ai viết sai người chết trước mặt nàng nữa. Bây giờ nàng mới biết bản đúng từng tồn tại, chỉ là đã bị người sống bóp cổ lần thứ hai.

“Bản ấy đâu?” Thanh hỏi.

“Bị lấy đi.” Chu Hoài Sinh đáp. “Ta giao cho thư lại để đóng dấu. Nửa canh giờ sau, Trịnh Bỉnh gọi ta vào, trên bàn đã có bản sạch khác. Chữ kết luận không phải của ta. Chữ sửa ở cuối chính là nét móc đuôi này. Khi ấy Trịnh Bỉnh chưa đủ gan tự sửa án có liên quan Hầu phủ. Sau lưng hắn có người Hình bộ.”

“Tên?”

“Ta không thấy mặt.” Ông nhìn dải giấy. “Nhưng người đó thuận tay trái khi đặt bút son. Dấu son trên góc bản nghiệm bị kéo lệch sang phải, mép dưới nặng hơn mép trên. Người thuận tay phải đóng sẽ khác. Ta nhớ vì lúc ấy ta đã nghĩ: kẻ này đóng dấu như đặt nắp quan tài, gọn đến lạnh người.”

Ngoài sân bỗng có tiếng chân giẫm lên vũng nước. Chu Hoài Sinh lập tức chụp dải giấy, nhét dưới tấm ván lỏng bên cạnh chậu tro. Thanh lùi vào bóng của giá quan tài chưa đóng. Cửa bị gõ hai tiếng, không đợi trả lời đã hé ra. Một sai dịch trẻ thò đầu vào, mắt đảo qua căn phòng. “Chu lão, Trịnh đại nhân hỏi sổ mẫu nghiệm trạng cũ. Sáng mai Hình bộ đến tra quy cách, ông có giữ thì nộp trước.”

Chu Hoài Sinh lại cầm dao, giọng đục như người vừa bị đánh thức. “Sổ mẫu? Đốt nhóm bếp hết rồi. Mấy thứ giấy mục ấy giữ làm gì, để chuột đọc à?”

Sai dịch cau mày. “Đại nhân dặn, nếu mất thì ông tự viết giấy cam đoan.”

“Bảo đại nhân đem cổ mình tới đây, ta viết luôn nghiệm trạng cho nhanh.” Chu Hoài Sinh ho khù khụ, ho đến lưng cong xuống. “Cút. Người già đang ngủ mà cũng không yên.”

Sai dịch chửi nhỏ một câu nhưng không dám vào sâu. Khi tiếng chân xa dần, Thanh mới bước ra. Chu Hoài Sinh không cười nữa. Ông kéo tấm ván lỏng lên, lấy dải giấy trả cho nàng, kèm một miếng thẻ tre mỏng đã ố vàng. Trên thẻ chỉ có vài chữ bị dao khắc rất nhỏ: Lục Vãn, bản đầu, cửa nước.

“Ta không giữ bản nghiệm trong nhà.” Ông nói, mỗi chữ đều chậm. “Năm đó ta sợ chết, nhưng chưa đến mức quên sạch. Bản nháp không nộp được giấu trong nhóm giấy liệm của những xác vô danh đưa qua cửa nước. Người nhận nhóm giấy ấy là Tạ Văn Nhai.”

Thanh siết miếng thẻ tre. Bên ngoài, trời trước bình minh đen hơn hẳn, như cả nha môn vừa nín thở. Chu Hoài Sinh nhìn nàng, lần đầu giọng ông không còn vẻ mắng mỏ quen thuộc. “Nếu ông ta còn sống đến sáng, ngươi sẽ có đường tìm bản đầu của Lục Vãn. Nếu không, kẻ sửa sổ đêm nay không chỉ giết một người già. Hắn sẽ chôn lại cái miệng cuối cùng còn biết người chết năm đó từng nói gì.”