Chương 42 - Chương 42: Người Bán Vé Xe Buýt
Tiếng bấm vé trong bản ghi được tách khỏi tiếng động cơ lúc 09:27. Ba tiếng khô hiện thành ba vạch nhọn trên màn hình, nhưng thứ giúp họ thu hẹp chuyến xe là hồ sơ lưu. Tuyến 27 chỉ ghé Bến Kho Cũ trong mười tám ngày, khi cầu phía nam sửa khe co giãn và xe buộc phải chạy đường vòng. Ngày tạo tin nhắn của Minh Thư nằm đúng trong khoảng đó. Từ giờ rời bến, hai tên trạm được rao trong nền và thời lượng giữa chúng, tổ xác minh loại được bốn trong sáu lượt xe chiều. Còn lại hai xe và hai nhân viên bán vé.
Đơn vị vận hành cũ đã giải thể sau lần đổi nhà thầu. Dữ liệu nhân sự nằm rải ở hồ sơ bảo hiểm, biên bản bàn giao tuyến và một vụ khiếu nại tiền lương. Huy yêu cầu mọi tra cứu được ghi thành phiếu riêng, không dùng địa chỉ dân cư cũ để tự tìm người. Gần mười một giờ, cán bộ lưu trữ gửi bản phân ca xe 27-04: chuyến 16:40 do tài xế Đặng Văn Khoa và nhân viên bán vé Trần Thị Nguyệt phụ trách. Địa chỉ mới của bà được xác minh qua cơ quan bảo hiểm và công an phường trước khi tổ công tác gọi hẹn.
Trạch Hành đọc lại chuỗi xác minh hai lần. Sáu năm trước, hồ sơ nói Minh Thư rời nhà một mình, điện thoại tắt sau cuộc gọi cuối và không có nhân chứng đáng tin. Bây giờ một tiếng tiền xu, dụng cụ bấm vé và hai tên trạm đang dựng lại phần thành phố bị lược khỏi hồ sơ. Anh không biết mình đau vì đã bỏ sót, hay vì có người từng nhìn thấy những thứ ấy rồi vẫn để chúng biến mất.
Điện thoại công vụ của Huy rung khi họ chuẩn bị rời trung tâm vận tải. An Nhiên báo M-19 chưa phát tín hiệu mới; tổ tìm kiếm vẫn kiểm tra các điểm có động cơ nền tương tự tệp 12,6 giây và không rút lực lượng. Huy chuyển màn hình cho Trạch Hành. “Việc này không thay ca tìm M-19. Tôi đã để một tổ giữ đường kỹ thuật và một tổ rà hiện trường.” Trạch Hành gật đầu. Anh không cảm ơn. Huy cũng không nhắc đến chữ ký đang nằm giữa họ như một tờ giấy chưa khô mực.
Nhà bà Nguyệt nằm trong một con hẻm phía tây bến xe mới, nơi tiếng xe buýt chỉ còn vọng tới như tiếng kim loại lăn xa. Bà đã ngoài sáu mươi, tóc cắt ngắn, mắt trái đục nhẹ và vẫn giữ thói quen đặt tiền lẻ thành từng chồng trên mặt bàn. Khi Huy trình quyết định làm việc và giải thích quyền của nhân chứng, bà nghe hết, rồi hỏi ngay: “Các anh tìm tôi vì vụ bảo hiểm hay vì con bé cầm máy ghi âm?” Câu hỏi khiến đầu bút của Huy dừng trên biên bản. Trạch Hành không chen vào. Anh để Huy hỏi lại thời điểm, tuyến xe và lý do bà nhớ.
Bà Nguyệt mở ngăn kéo, lấy ra dụng cụ bấm vé bằng thép đã xỉn màu, bóp thử hai lần. “Cái của tôi hồi đó kẹt răng số bốn. Bấm vé tháng phải bóp thêm một lần.” Huy yêu cầu kỹ thuật viên ghi âm, chụp số hiệu và chỉ ghi nhận đây là vật mẫu do nhân chứng tự cung cấp, chưa được kết luận trùng khớp. Sau đó ông mới phát đoạn nền đã lọc, không cho bà nghe giọng Minh Thư trước.
Bà Nguyệt nhắm mắt khi tiếng động cơ nổi lên. Đến câu rao “Bến Kho Cũ”, bà nói đó là giọng mình. Huy vẫn hỏi bà dựa vào đâu. Bà chỉ ra cách kéo dài chữ “cũ”, tiếng ho nhỏ và tiếng bấm vé dội vào tấm chắn cạnh cửa sau xe 27-04. Những chi tiết ấy được ghi nguyên văn. Chỉ khi phần xác định nguồn ký ức hoàn tất, Trạch Hành mới đề nghị phát toàn bộ tin nhắn. Giọng Minh Thư vang lên, trẻ và gần đến mức anh phải nhìn xuống mặt bàn.
“Con bé này tôi nhớ,” bà Nguyệt nói sau khi tệp dừng. “Nó hỏi tôi âm thanh xe khi qua cầu sắt có khác khi qua đường bê tông không. Ai đi xe mà hỏi kỳ vậy thì nhớ chứ.” Bà cũng nhớ Minh Thư không đi một mình. Cô gái ngồi cạnh gầy hơn, khoảng mười sáu hoặc mười bảy tuổi, mặc áo khoác xám giữa buổi chiều nóng và luôn kéo tay áo che cổ tay. Khi xe thắng gấp, cô gái không chống tay mà co người về phía cửa sổ. Minh Thư đổi chỗ, ngồi phía ngoài, như thể chỉ một thân người cũng đủ chắn lối nhìn từ hành lang xe.
Trạch Hành hỏi bà có nghe tên cô gái hay không. Bà Nguyệt lắc đầu. Cô gái hầu như không nói, chỉ một lần xin Minh Thư xuống trước Bến Kho Cũ vì sợ có người chờ ở trạm. Minh Thư không đồng ý. Em hỏi bà Nguyệt cửa nào của bến cũ dẫn ra khu nhà kho phía sau và chuyến cuối quay lại thành phố là mấy giờ. Những câu hỏi không giống một người đi lạc. Chúng giống người đang tính đường vào và đường ra trước khi bước xuống.
Huy hỏi về vé. Minh Thư trả tiền cho hai người, nhưng cô gái đưa ra một phiếu đi xe hỗ trợ của cơ sở bảo trợ. Phiếu đã hết hiệu lực, bà Nguyệt cho qua rồi tự bù cuối ca. “Bảy nghìn đồng. Công ty trừ vào lương tôi, còn bảo tôi bịa hành khách.” Bà vào phòng trong, mang ra túi hồ sơ nhựa đã ố vàng. Bà giữ giấy tờ không phải vì nhớ Minh Thư, mà vì vụ bảo hiểm với công ty cũ chưa được giải quyết.
Trong bảng kê có ngày, số xe, lượt chạy và hai vé phát sinh. Kẹp sau trang là bản photocopy một góc phiếu hỗ trợ, mực xanh nhòe nhưng vẫn đọc được “Mái ấm Hướng Dương”. Phía trên là biểu tượng mái nhà xanh với ba nét xiên. Ở mép giấy, bà Nguyệt viết: “Áo xám, không muốn báo cơ sở.” Huy đề nghị lập ảnh sao tại chỗ, ghi nguồn gốc và niêm phong bản sao; bản gốc vẫn do bà giữ cho đến khi có quyết định thu thập phù hợp. Bà đồng ý sau khi ông đọc rõ quyền của mình.
Trong lúc kỹ thuật viên chụp từng mặt giấy dưới thước tỷ lệ, Trạch Hành hỏi vì sao bà ghi câu ấy. Bà Nguyệt nhìn anh lâu hơn những lần trước. “Vì con bé áo xám kéo tay cô em anh, nói rất nhỏ. Nó bảo đừng gọi về mái ấm. Nó nói người ở đó sẽ tới trước công an.” Bà dừng lại, như để chắc mình không ghép thêm điều đã nghe sau này. “Tôi hỏi có cần báo ai không. Cô em anh nói chưa, rồi hỏi tôi có biết chỗ nào gần Bến Kho Cũ còn điện thoại công cộng.”
Câu trả lời kéo M-19 trở lại giữa căn phòng: một cô gái sợ người của mái ấm đến trước công an, một cô bé hiện tại không dám nói thành lời, và cùng một giai điệu hạ sai nốt cuối. Trạch Hành tự buộc mình tách chúng ra. “Bà có thể khẳng định cô gái ấy là người của Mái ấm Hướng Dương không?” Bà Nguyệt lắc đầu. “Tôi chỉ thấy phiếu và nghe nó nói vậy. Nó sống ở đó bao lâu, tên thật là gì, tôi không biết.” Chính giới hạn ấy khiến lời khai đáng tin.
Huy hỏi chuyến xe kết thúc thế nào. Bà Nguyệt nói hai cô gái không xuống ở trạm chính. Trước Bến Kho Cũ một đoạn, Minh Thư bấm chuông, nhưng khi nhìn qua cửa kính thấy một chiếc xe bảy chỗ màu trắng đỗ sát lề, em đổi ý và kéo cô gái áo xám đi tiếp thêm hai trạm. Bà không nhớ biển số. Bà chỉ nhớ cô gái áo xám bắt đầu ngân năm nốt rất nhỏ, còn Minh Thư gõ ngón tay lên thành ghế theo nhịp. “Nó hát sai nốt cuối,” bà nói. “Cô em anh cười, bảo cứ hát thế đi, người cần nghe sẽ nhận ra.”
Trạch Hành không hỏi người cần nghe là ai. Câu hỏi ấy thuộc về chứng cứ khác, không phải phần ký ức đã được bà Nguyệt giới hạn cẩn thận. Huy ký xác nhận kết thúc buổi lấy lời khai, nhưng trước khi gập hồ sơ, ông nhìn thêm một lần vào dấu “Mái ấm Hướng Dương”. Sắc mặt ông không đổi; chỉ ngón tay giữ mép giấy siết lại. Trạch Hành thấy. Anh cũng thấy Huy chọn không nói mình có nhận ra cái tên đó hay không.
Ra khỏi con hẻm, An Nhiên gọi, báo chưa có tín hiệu mới từ M-19. Trạch Hành tóm tắt lời khai và nhấn mạnh chưa thể đồng nhất cô gái áo xám với cô bé hiện tại. “Giữ họ là hai người khác nhau cho đến khi chứng cứ buộc ta làm ngược lại,” cô nói. Trước khi cúp máy, cô hỏi anh có đang nghe lại giọng Minh Thư không. Anh nhìn xe buýt ngoài phố. “Có. Nhưng lần này tôi còn nghe một người khác ngồi cạnh em ấy.”
Bản sao phiếu hỗ trợ được chuyển thẳng về kho chứng cứ. Trên đường về, tổ lưu trữ gửi thêm kết quả sơ bộ: trong danh mục cơ sở bảo trợ hiện hành không có Mái ấm Hướng Dương, nhưng tên đó từng xuất hiện trong một hồ sơ cấp phép đã đóng sáu năm trước. Địa chỉ đăng ký không nằm ở Bến Kho Cũ. Nó nằm tại một căn nhà mái xanh ở phía đông thành phố, nơi sau này đã đổi tên pháp nhân hai lần.
Trạch Hành nhìn dòng chữ trên màn hình rồi nhìn Huy. Câu hỏi về chữ ký vẫn còn nguyên, nhưng trước mắt họ là phần thành phố Minh Thư từng cố mở ra. Anh chuyển kết quả cho tổ xác minh địa chỉ và yêu cầu giữ tuyến tìm M-19 ở mức ưu tiên cũ. Sau đó anh mở lại ảnh chụp góc phiếu. Dưới con dấu phai màu là nét bút của bà Nguyệt: “Áo xám, không muốn báo cơ sở.”
Sáu năm qua, họ vẫn nghĩ Minh Thư lên tuyến 27 để tìm một mái ấm. Người bán vé xe buýt vừa cho họ biết điều ngược lại. Minh Thư đã lên xe cùng một cô gái từng ở mái ấm ấy — và đang cố đưa cô chạy khỏi đó.
