Bỏ qua nội dung

Loi Khai Cuoi Cung

Chương 44 - Chương 44: Một Chẩn Đoán Bị Dùng Sai

Chương 44: Một Chẩn Đoán Bị Dùng Sai

Minh Châu vừa dứt câu, Quân đã nghe tiếng quạt của chiếc máy cách ly trở nên rõ hơn. Không ai hỏi lại cô có chắc hay không. Câu khẳng định ấy không cần được làm lớn bằng sự phẫn nộ; nó cần được tách thành những việc có thể chứng minh. An Nhiên khép phụ lục niêm phong, đặt lên trên một tờ giấy trắng rồi viết hai dòng: hồ sơ nói gì, hồ sơ đi bằng đường nào.

“Ta xử lý riêng,” cô nói. “Một: họ đang dùng sai ý nghĩa của chẩn đoán. Hai: họ có quyền cầm tài liệu này hay không. Không dùng nghi vấn của việc thứ hai để né việc thứ nhất.”

Châu vẫn đặt ngón tay trên tên mình. Sự xấu hổ ban đầu đã rút xuống, để lại một vẻ tỉnh táo gần như lạnh. “Nếu em cho phép lấy hồ sơ đầy đủ, họ sẽ biết hết những gì em từng nói?”

“Chúng ta chỉ yêu cầu đúng ba buổi tư vấn này và nhật ký cung cấp hồ sơ.” An Nhiên đẩy bản đồng ý về phía cô nhưng chưa đưa bút. “Em được đọc phạm vi trước. Em cũng có quyền không ký. Khi đó ta vẫn phản đối, chỉ là sẽ khó chỉ ra họ đã cắt phần nào.”

Quân thấy An Nhiên không hứa rằng đời tư của Châu sẽ được giữ nguyên vẹn. Một lời hứa như thế, trong căn phòng đang có bản bệnh án của cô gái mười chín tuổi do đối phương nộp lên, chỉ là một cách nói dối dễ nghe. Châu đọc từng dòng, gạch bỏ mục cho phép cung cấp “mọi thông tin liên quan”, thay bằng tên ba ngày hẹn và mục đích “đối chiếu tài liệu đã được nộp cho tòa”. Cô ký sau cùng.

Mai Hạnh lập tức tạo hai bản: một bản gửi phòng tham vấn, một bản đính kèm yêu cầu tòa giữ nguyên tình trạng niêm phong. Cô ghi số trang, giờ gửi và mã băm của phụ lục Đại Tín đã nộp. Quân gọi số trực của phòng tham vấn, chỉ thông báo văn bản đã đến và yêu cầu chuyển cho người phụ trách tuân thủ. Anh không đọc tên chẩn đoán qua điện thoại, cũng không nói Đại Tín đã đánh cắp hồ sơ. Mười hai phút sau, phía phòng tham vấn xác nhận sẽ tiếp nhận Châu trực tiếp lúc bảy giờ ba mươi.

Trời sáng lên trong lúc họ đi qua quận cũ. Mặt đường còn giữ nước mưa, những biển hiệu chưa bật hết đèn. Châu ngồi sau, chiếc cốc trà đã nguội nằm giữa hai bàn tay. Cô không hỏi tòa sẽ nghĩ gì nữa. Cô chỉ hỏi An Nhiên một câu: “Một người từng hoảng sợ có thể làm nhân chứng không?”

An Nhiên nhìn qua gương chiếu hậu. “Một người từng hoảng sợ vẫn có thể nhìn, nghe và nhớ. Nhưng từng chi tiết trong lời khai của em vẫn phải được kiểm tra như của bất kỳ ai khác.”

Câu trả lời không dịu dàng, nhưng vai Châu bớt cứng. Quân hiểu cô cần chính điều đó: không được miễn kiểm chứng vì đáng thương, cũng không bị tước quyền được tin vì từng cần giúp đỡ.

Phòng tham vấn nằm trên tầng ba của một tòa nhà cũ, bên trên cửa hàng thiết bị y tế. Người ký ba phiếu tư vấn là bác sĩ Trần Minh Thư. Bà không đồng ý gặp riêng An Nhiên cho tới khi tự kiểm tra giấy đồng ý với Châu và xác nhận lại từng mục. Khi đã ngồi xuống, bà đặt bản hồ sơ đầy đủ giữa bàn, không đẩy về phía ai.

“Tôi có thể giải thích chữ của tôi,” bà nói. “Tôi không thể nói cô Minh Châu đã nhìn thấy gì ở một tai nạn xảy ra gần một năm sau đó. Tôi không khám cô ấy vào đêm ấy.”

“Chúng tôi không yêu cầu bà xác nhận lời khai tai nạn,” An Nhiên đáp. “Chỉ cần bà nói rõ những cụm từ này có nghĩa gì trong lần tư vấn.”

Bác sĩ Thư đọc bản do Đại Tín nộp, lâu hơn ở những đoạn được tô đậm. Bà chỉ vào cụm “cảm giác không thật”. “Đây là mô tả của một cơn choáng và tách rời ngắn khi mẹ cô ấy cấp cứu. Ngay sau đó tôi ghi bệnh nhân biết mình ở bệnh viện, biết thời gian tương đối và nhận ra người xung quanh. Vì thế mới có dòng ‘định hướng thực tại được bảo toàn’.”

Ngón tay bà chuyển xuống cụm “ký ức có thể rời rạc khi chịu căng thẳng cao”. “Đây là phần tôi giải thích chung về phản ứng lo âu, không phải kết luận rằng trí nhớ của cô ấy luôn rời rạc. Cũng không phải chẩn đoán rối loạn tri giác. Bản trích đã đặt một câu hướng dẫn cạnh một triệu chứng đơn lẻ, rồi bỏ phần đánh giá ngay sau nó.”

Quân hỏi: “Chẩn đoán rối loạn lo âu có tự nó cho phép kết luận một người không phân biệt được điều họ nhìn thấy với điều họ tưởng tượng không?”

“Không.” Bác sĩ Thư trả lời ngay, sau đó tự giới hạn câu nói của mình. “Nhưng lo âu và căng thẳng có thể ảnh hưởng cách một người tập trung hoặc nhớ lại. Muốn đánh giá một lời khai cụ thể phải dựa vào thời điểm, điều kiện quan sát, sự nhất quán và các đối chứng khác. Không thể lấy tên chẩn đoán thay cho toàn bộ đánh giá đó.”

An Nhiên ghi đúng câu cuối. Cô không hỏi thêm để bác sĩ nói điều thuận lợi hơn. Chính sự dè dặt của người chuyên môn mới làm phần giải thích có trọng lượng. Bác sĩ Thư đồng ý lập một văn bản xác nhận giới hạn: hồ sơ ghi nhận lo âu trong bối cảnh mẹ Châu cấp cứu; không ghi nhận rối loạn tri giác; cụm về ký ức rời rạc là nội dung tư vấn chung; bà không đưa ý kiến về độ chính xác của lời khai tai nạn.

Trong khi bác sĩ hoàn thiện văn bản, người phụ trách tuân thủ mang ra một bản sao hồ sơ có đóng dấu và biên nhận yêu cầu cung cấp. Bà ta xin thêm thời gian để trích nhật ký hệ thống vì máy chủ do đơn vị khác quản lý. An Nhiên không ép một câu trả lời miệng. Cô chỉ yêu cầu ghi vào biên nhận rằng Châu chưa từng nộp yêu cầu cung cấp cho Đại Tín, Hưng Thịnh hoặc một đơn vị thẩm định bên ngoài. Người phụ trách kiểm tra sổ giấy, rồi ký xác nhận điều đó trong phạm vi hồ sơ hiện có.

Đến chín giờ mười, họ trở lại An Bình. Đại Tín đã nộp bản bổ sung dài sáu trang. Phần mở đầu nói họ không kỳ thị người điều trị tâm lý; phần còn lại dùng chính việc Châu từng điều trị để yêu cầu cho phép hỏi về “năng lực phân biệt tri giác thực và phản ứng chủ quan”. Ba chữ được lặp nhiều nhất là nguy cơ sai lệch.

An Nhiên đọc một lần rồi đặt bản xác nhận của bác sĩ Thư cạnh đó. “Họ không cần gọi em nói dối,” cô nói với Châu. “Họ muốn biến tên một bệnh thành câu trả lời thay cho mọi câu hỏi về hiện trường.”

“Vậy em có phải giấu việc điều trị nữa không?”

“Không.”

Châu nhìn thẳng vào cô. “Nếu tòa cho hỏi, em sẽ nói em từng lo âu. Nhưng họ phải đọc cả dòng em vẫn biết mình ở đâu.”

Quân thấy An Nhiên dừng bút một nhịp. Sáu năm trước, cô đã cố bảo vệ một vụ kiện bằng cách thu hẹp những phần dễ bị tấn công, cho tới khi người khác lấy chính khoảng trống ấy làm nơi chôn sự thật. Lần này cô không làm Minh Châu sạch hơn hồ sơ. Cô để Châu nguyên vẹn trong hồ sơ, cả điểm yếu lẫn phần chứng minh điểm yếu ấy không đồng nghĩa với mất khả năng nhận thức.

Mai Hạnh chia bản phản hồi thành ba tầng. Tầng thứ nhất phản đối dùng bệnh án để suy diễn chung về độ tin cậy. Tầng thứ hai, nếu tòa vẫn cho hỏi, yêu cầu giới hạn vào thời điểm điều trị, thuốc đang dùng và mối liên hệ thực tế với đêm tai nạn. Tầng thứ ba yêu cầu mọi câu hỏi phải dựa trên hồ sơ đầy đủ, không được trích riêng những cụm bất lợi. Bản xác nhận của bác sĩ Thư được nộp như tài liệu giải thích thuật ngữ, không phải giấy chứng nhận Châu luôn đúng.

Lúc Mai Hạnh chuẩn bị gửi, điện thoại Quân hiện tin nhắn của Kha. Anh gửi ảnh chụp một bản nháp chưa đăng, tiêu đề hỏi liệu “nhân chứng chủ chốt từng mất khả năng nhận biết thực tại”. Bên dưới chỉ có một câu: Có cần phản công ngay không?

An Nhiên đọc màn hình nhưng không nhận điện thoại. “Trả lời anh ta: không đăng tên chẩn đoán, không đăng chi tiết bệnh án, không biến hồ sơ niêm phong thành cuộc bỏ phiếu trên mạng. Bất kỳ phản hồi nào cũng chờ ta thống nhất bằng tài liệu công khai.”

Quân gửi nguyên văn. Kha trả lời sau chưa đầy một phút: Tôi hiểu.

Mười một giờ bốn mươi sáu, phản hồi của An Bình được nộp lên cổng tòa. Châu tự bấm nút xác nhận cho phép sử dụng bản giải thích của bác sĩ Thư trong phạm vi phiên tiền tố tụng. Sau đó cô ra hành lang gọi cho mẹ. Quân không nghe nội dung, chỉ thấy cô đứng rất thẳng bên cửa sổ, như người đang tập nói một sự thật không còn xin lỗi vì nó tồn tại.

Trong phòng, An Nhiên cuối cùng mới mở email vừa đến từ người phụ trách tuân thủ. Tệp đính kèm gồm nhật ký truy cập, nhật ký xuất tài liệu và báo cáo sự cố nội bộ. Mai Hạnh chuyển nó sang máy cách ly, ghi giờ nhận, kiểm tra chữ ký số rồi tạo bản làm việc. Không ai nói gì khi dòng sự kiện hiện ra.

Hồ sơ Minh Châu được mở lúc 22 giờ 41 ba ngày trước khi Đại Tín nộp phụ lục. Tài khoản thực hiện thuộc một nhân viên hành chính đã nghỉ việc hơn hai tháng; quyền truy cập đáng lẽ đã bị khóa. Trong chín phút, tài khoản đó tìm đúng mã hồ sơ, mở cả ba phiếu tư vấn, xuất một bản PDF và xóa mục khỏi danh sách tải gần đây. Hệ thống không ghi nhận yêu cầu của bệnh nhân, lệnh của tòa hay phiếu cung cấp hợp lệ nào đi kèm.

Báo cáo sự cố kết thúc bằng một câu khô khốc: lần xuất dữ liệu được xác định là truy cập không được phép và đã chuyển sang quy trình điều tra bảo mật.

An Nhiên đọc xong, không nhìn Châu ngoài hành lang và cũng không gọi ngay cho Đại Tín. Cô kéo tờ giấy có hai dòng từ đầu đêm lại gần, đánh dấu câu thứ nhất đã có lời giải thích, rồi khoanh câu thứ hai.

“Bây giờ ta có thể gọi đúng tên việc đã xảy ra,” cô nói. “Hồ sơ này bị lấy trái phép. Nhưng người dùng tài khoản đó, và người nhận bản PDF, vẫn chưa lộ.”