Bỏ qua nội dung

Huyen Menh

Chương 78 - Chương 78: Lời Thề Chưa Thành - Huyền Thạch Ẩn Cư

Dịch quán phía bắc nha môn vốn là nơi người kinh thành nghỉ chân, tường trắng, mái đen, cửa sổ đóng kín như sợ gió Thanh Châu mang theo quá nhiều tiếng dân. Khi ta bước xuống xe, trời đã sáng hẳn. Mưa đêm qua rửa sạch bụi trên phiến đá trước cổng, nhưng không rửa được mùi dầu đèn, áo ướt và căng thẳng bám trong cổ họng mỗi người. Vân Chi đi cạnh ta, tay áo xanh nhạt còn vương mùi thuốc. Nàng không hỏi ta có sợ không, chỉ đưa một miếng bánh quế nhỏ bọc giấy dầu. “Ăn đi,” nàng nói khẽ, “gặp người sống sót qua mười mấy năm mà bụng rỗng, dễ nói những câu khiến người ta muốn đánh lắm.” Ta bật cười, rồi thật sự ăn. Bánh đã nguội, hơi cứng, nhưng ngọt đến mức nhắc ta nhớ mình vẫn còn là người sống.

Người trùm đầu được giữ trong phòng trong cùng. Hai người còn lại bị tách ra hỏi riêng, chỉ có hắn nhất quyết không mở miệng, cũng không nhận trà nước của dịch quán. Khi sứ giả kinh thành đưa ta vào, hắn ngồi quay lưng về phía cửa, áo choàng đen phủ từ vai xuống đầu gối, bàn tay đặt trên mặt bàn gầy đến chỉ còn gân. Trên cổ tay hắn có một vết sẹo cũ chạy ngang, giống vết dây thừng từng siết rất sâu. Sứ giả nói: “Người giữ bàn tính ngọc đã tới.” Người kia chậm rãi quay lại. Dưới mũ trùm là một gương mặt già hơn tuổi thật, râu tóc lốm đốm bạc, mắt đục nhưng chưa tắt. Hắn nhìn ta rất lâu, rồi nhìn bàn tính ngọc trong tay ta, giọng khàn như cát cọ đá: “Công tử là con của Tô Diên?”

Ta đặt bàn tính lên bàn. Bao năm qua, rất nhiều người gọi mẹ ta bằng tội danh, bằng lời đồn, bằng một cái nhíu mày lẩn tránh trong từ đường. Rất ít người gọi thẳng tên bà bằng giọng như đang nhắc đến một người từng sống. “Ta là Lục Hoài Tranh,” ta nói, “nếu ông muốn gặp người giữ bàn tính, ta ở đây. Nếu ông muốn gặp con của Tô Diên, ta cũng ở đây.” Người kia lấy từ trong ngực ra một mảnh huyền thạch nhỏ, đen bóng, mặt dưới khắc nửa chữ Diên đã mòn. “Ta tên Mạc Thạch. Người trong kho quan gọi ta là Huyền Thạch, vì năm xưa ta chuyên khắc khuôn niêm chì bằng đá đen. Tô phu nhân từng cứu mạng ta ở cửa đông. Ta đã thề đưa sổ của nàng lên kinh, nhưng ta không đi được.”

Một lời thề chưa thành, đặt xuống bàn, nhẹ hơn một hòn đá mà nặng hơn cả kho lương. Mạc Thạch kể rất chậm. Năm Bính Thân, hắn là thợ khắc niêm cho kho quan, phụ trách sửa khuôn chì bị nứt. Hắn phát hiện có hai bộ khuôn cùng dấu triện: một bộ thật dùng ban ngày, một bộ giả dùng đêm, góc dưới đều có vết móc câu rất nhỏ để người trong cuộc nhận ra. Tô Diên nhờ hắn giữ một bản giấy dầu ghi tên người áp vận và tuyến xe cửa đông, hẹn sau đêm rằm sẽ cùng đưa chứng cứ rời Thanh Châu. Nhưng đêm ấy, xe lương đi qua miếu cũ, quan binh đổi tuyến, Tô Diên bị thương nặng và được đưa tới Tạ gia y quán. Mạc Thạch bị bắt trên đường ra bến, bị chém vào cổ tay rồi ném xuống sông. Hắn sống sót nhờ dân chài, từ đó ẩn cư ở thôn Huyền Thạch bên núi phía tây.

Trong phòng im đến mức nghe rõ Vân Chi hít vào rất nhẹ. Nàng bước lên một bước, không để hắn chìm hẳn vào tội lỗi của mình. “Ông vẫn giữ nó đến hôm nay, tức là lời thề chưa chết,” nàng nói. “Nhưng nếu ông muốn nó thành chứng, phải nói trước phiên thẩm, trước dân Thanh Châu, trước người có thể ghi vào án.” Mạc Thạch ngẩng đầu nhìn nàng. Ta thấy trong ánh mắt đục ấy có chút sợ hãi rất người. Kẻ chạy trốn lâu năm không sợ chết nhất; hắn sợ nhất là sống sót tới cuối cùng rồi vẫn vô dụng. Ta mở bàn tính ngọc, lấy mảnh bản đồ của mẹ đặt cạnh huyền thạch. Những đường vận lương trên giấy cũ trùng với lời hắn nói. “Mạc thúc,” ta đổi cách gọi, “lát nữa Thẩm Kính sẽ cắn vào tội Lục gia mở kho cứu lũ. Ông không cần thay ta tranh cãi. Ông chỉ cần nói đúng chuyện mình tận mắt thấy.”

Phiên thẩm mở ở sân lớn nha môn trước giờ ngọ. Sứ giả kinh thành không chọn công đường kín, mà cho dựng án trước hiên, bên ngoài có lính giữ trật tự và cho dân đứng ngoài vạch dây nghe xét. Quyết định ấy làm Thẩm Kính mất một nửa thế ngay từ đầu. Quan trường thích bóng râm, còn sự thật bị phơi dưới nắng thì khó giả vờ không nhìn thấy hơn. Nhưng hắn vẫn là Thẩm Kính. Hắn bước ra trong quan bào chỉnh tề, sắc mặt trắng lạnh, như thể mình mới là người bị thế gia địa phương bức hại. Tống Kỳ bị áp tới bên cạnh, tay trói nhưng lưng vẫn cố thẳng. Tạ Hành Chu được Vân Chi và tiểu đồng dìu ngồi ở ghế nhân chứng, vai băng dày, môi không còn sắc máu. Thanh Hành đứng sau ta, đặt rương vật chứng xuống thật mạnh, mạnh đến mức ta nghi hắn muốn lấy tiếng đó thay cho mười câu mắng.

Sứ giả kinh thành hỏi vụ quân lương năm Bính Thân trước. Ta trình sổ kho Lục gia, sổ phát chẩn, mảnh sổ của Tống Kỳ, bản đồ trong bàn tính ngọc, chì niêm cũ ở miếu, chì niêm mới trên bao lương độc, lời khai y quán và nửa đồng tiền đen. Mỗi món đều được người chứng kiến ký tên. Mạc Thạch mở mũ trùm ngay trước sân, đưa ra nửa khuôn huyền thạch. Khi hai vết móc câu trên khuôn đá và hai miếng chì được đặt cạnh nhau, tiếng xôn xao ngoài vạch dây nổi lên như nước đập vào bờ. Thẩm Kính chỉ nhìn một lần rồi cười lạnh: “Một thợ khắc mất tích mười mấy năm, một mảnh đá không rõ lai lịch, vài cuốn sổ của Lục gia. Đại nhân, nếu thế cũng tính là án, về sau bất kỳ thế gia nào cũng có thể dựng một người chết trở về để vu cáo quan phủ.”

Ta biết hắn sẽ nói vậy. Nếu chứng cứ đánh thẳng vào hắn, hắn sẽ nói chứng cứ giả; nếu nhân chứng sống sót, hắn sẽ nói nhân chứng bị mua. Cho nên ta không tranh hơn thua bằng giọng. Ta chỉ xin sứ giả cho đọc ba khoản phát lương trong mùa lũ vừa rồi, rồi mời ba người dân nhận lương bước lên. Một bà lão từng quỳ ngoài Lục gia, một người khuân đá ở đê nam, và một phụ nhân ôm đứa trẻ còn ho nhẹ vì từng ăn cháo độc. Họ không biết chuyện năm Bính Thân, không hiểu khuôn niêm giả thật, càng không quen mẹ ta. Họ chỉ biết ngày nào quan kho đóng cửa, ngày nào Lục gia mở kho, bao gạo nào có mùi lạ, ai đã ghi tên họ vào danh sách cứu tế để tránh nhận hai lần hoặc bị bỏ sót. Những điều nhỏ ấy nối lại thành tường.

Thẩm Kính cuối cùng chuyển mũi dao: “Lục Hoài Tranh, ngươi tự ý mở kho quan dưới danh nghĩa cứu dân, dùng dân tâm ép triều đình, lại giữ người của quan phủ trong kho cũ. Dù vụ cũ thế nào, tội trước mắt ngươi chối được sao?” Câu ấy rơi xuống, sân nha môn bỗng yên. Đây mới là lưỡi dao hắn giấu kỹ nhất. Nếu ta nói mình không có tội, hắn sẽ kéo ta vào tội chống lệnh. Nếu ta nhận tội, hắn sẽ dùng chính tội ấy để phủ hết chứng cứ ta đưa ra. Ta quỳ xuống trước án, nghe đầu gối chạm đá lạnh. “Ta mở kho,” ta nói, “vì khi ấy kho quan khóa cửa, đê nam vỡ, dân đói và lương độc đã trộn vào cháo cứu tế. Ta không xin miễn tội. Nếu triều đình xét ta vượt quyền, ta nhận. Nhưng cứu người là tội của ta. Rút lương rồi đổ chết đói cho trời mưa, là tội của ai?”

Ngoài vạch dây, bà lão kia bỗng quỳ xuống. Sau bà là người khuân đá, phụ nhân ôm con, rồi từng người từng người một. Không ai hô khẩu hiệu, không ai được dạy phải nói gì. Họ chỉ quỳ, lưng cong, tay dính bùn chưa rửa sạch, tiếng khóc nén lại còn nặng hơn tiếng kêu oan. Sứ giả kinh thành nhìn ra ngoài, vẻ mặt lần đầu có chút dao động. Ta không quay lại. Ta sợ chỉ cần nhìn lâu hơn một chút, những con số trong đầu sẽ vỡ ra thành gương mặt, thành chén cháo loãng, thành bàn tay Vân Chi run khi băng bó người bệnh trong mưa. Vân Chi đứng sau ta, giọng nàng vang lên rất rõ: “Tạ gia y quán xác nhận, nếu kho không mở trong đêm ấy, số người chết vì đói rét và cháo độc sẽ còn nhiều hơn gấp bội. Ta nguyện ký tên vào lời khai này bằng danh dự Tạ gia.”

Thẩm Kính nhìn nàng, ánh mắt lạnh đi. “Một y quán từng đổi mạch án năm xưa, cũng dám nói danh dự?” Tạ Hành Chu chống tay đứng dậy, vai băng thấm đỏ. Vân Chi muốn đỡ, nhưng ông lắc đầu. “Năm xưa ta hèn, ta có tội,” ông nói, từng chữ run mà không gãy. “Nhưng chính vì ta từng hèn, hôm nay ta phải nói. Tô phu nhân không thông địch. Người nàng muốn tố là đường dây quân lương cửa đông. Đêm nàng được đưa tới y quán, ngoài cửa có xe lương đi qua, có người của quan phủ truy sát, và có người Lục gia đến muộn rồi im lặng mang mọi thứ chôn xuống.” Câu cuối vừa ra, trong lòng ta trầm xuống. Thẩm Kính lập tức bắt lấy: “Nghe rõ chưa? Người Lục gia cũng có phần. Lục Hoài Tranh, ngươi muốn dùng tội của quan phủ rửa sạch cho gia tộc mình, nhưng chính tổ phụ ngươi mới là người chôn chứng cứ khiến mẹ ngươi chết không nhắm mắt!”

Mũi dao ấy không đâm vào sổ sách, mà đâm thẳng vào từ đường trong lòng ta. Ta từng nghĩ mình đã chuẩn bị cho khoảnh khắc này, nhưng khi nghe tên Lục Sùng bị kéo ra giữa sân nha môn, ngực vẫn như bị ai đặt một miếng chì lạnh. Dân ngoài sân xôn xao. Thanh Hành siết chặt chuôi rương, mặt trắng bệch. Nếu Lục Sùng không tới, Thẩm Kính sẽ biến Lục gia thành đồng phạm trốn tội, kéo mọi chứng cứ thành cuộc thanh toán nội bộ. Nếu ông tới, ông phải tự tay xé lớp im lặng đã giữ Lục gia sống qua mười mấy năm. Đúng lúc ấy, tiếng gậy chạm đá vang lên từ ngoài cổng. Đám đông tách ra. Lục Sùng mặc áo xám, tóc bạc buộc gọn, bước vào chậm đến mức mỗi bước đều giống một lần trả nợ. Ông không nhìn Thẩm Kính, cũng không nhìn dân chúng. Ông chỉ nhìn ta, rồi quỳ xuống trước án. “Đại nhân,” ông nói, giọng già nua mà rõ ràng, “tội che giấu năm Bính Thân của Lục gia, do lão phu nhận.”